Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự Tội phạm và các hình thức biểu hiện của nó ra thế giới khách quan rất đa dạng, phong phú và đều có sự khác nhau về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, hình thức lỗi, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, công cụ, phương tiện phạm tội hay nhân thân người phạm tội. Cho nên, điều đó đòi hỏi các nhà làm luật Việt Nam cố gắng ở mức tối đa làm sao điều chỉnh được các hình thức xử lý khác nhau và vừa phải thể hiện chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội - để có đường lối xử lý phù hợp, chính xác và công bằng, nhưng mặt khác - cũng phải bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc của luật hình sự nước ta, qua đó còn phản ánh nguyên tắc “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục” trong chính sách hình sự của Nhà nước đối với việc cải tạo, giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm.
Sự thể hiện nội dung này phản ánh qua nội dung các nguyên tắc xử lý tại Điều 3 Bộ luật hình sự. Điều này đúng như GS. Nguyễn Ngọc Hòa đã nhận định: “Trách nhiệm hình sự càng được phân hóa trong luật thì càng tạo điều kiện cho cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong áp dụng” [17, tr. Miễn trách nhiệm hình sự xuất hiện khi có trách nhiệm hình sự, khái niệm, nội dung của miễn trách nhiệm hình sự được bắt nguồn từ trách nhiệm hình sự.
Do đó, làm sáng tỏ nội dung của trách nhiệm hình sự thì sẽ phản ánh hình thức của trách nhiệm hình sự là miễn trách nhiệm hình sự [59, tr. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trước hết, Đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa “trách nhiệm” được hiểu đơn giản là: “điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình” [63, tr. Còn trong thực tiễn pháp lý, “trách nhiệm” thường được hiểu theo nghĩa tiêu cực, là hậu quả bất lợi của một người đã thực hiện hành vi vi phạm bổn phận, nghĩa vụ phải gánh chịu trước người khác, trước Nhà nước. Chính vì thế, “trách nhiệm hình sự” là thuật ngữ được dùng để áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự, đồng thời là một dạng của trách nhiệm pháp lý.
Tổng hợp các quan điểm và các tiếp cận khác nhau về nội hàm khái niệm trách nhiệm hình sự [65, p.7-8], theo người viết, khái niệm trách nhiệm hình sự được hiểu thống nhất như sau - Trách nhiệm hình sự là một hình thức (dạng) của trách nhiệm pháp lý, đồng thời là hậu quả pháp lý bất lợi trực tiếp của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc Tòa án áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Bộ luật hình sự quy định. Như vậy, ngoài những đặc điểm chung của trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm hình sự còn có các đặc điểm riêng như sau: - Trách nhiệm hình sự là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với bất kỳ dạng trách nhiệm pháp lý nào khác. Trách nhiệm hình sự chính là sự phản ánh việc lên án hành vi phạm tội của người phạm tội thông qua việc Nhà nước quy định, áp dụng các biện pháp cưỡng chế về hình sự đối với người đã thực hiện tội phạm; - Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và chỉ xuất hiện khi có sự việc phạm tội. Vì vậy, lôgíc là, trách nhiệm hình sự sẽ “tồn tại khách quan mà không phụ thuộc vào việc các cơ quan hay người có thẩm quyền đã phát hiện được tội phạm và người phạm tội hay chưa” [13, tr.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định - một bên là Nhà nước, còn bên kia là người phạm tội. Cho nên, thời điểm phát sinh cơ sở của trách nhiệm hình sự là thời điểm một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm, nhưng có thể trách nhiệm hình sự sẽ không được thực hiện trên thực tế, nếu có những điều kiện để miễn trách nhiệm hình sự cho người đó theo quy định của Bộ luật hình sự trên những cơ sở chung [59, tr. - Trách nhiệm hình sự phản ánh tính chất công - chỉ có Nhà nước mới có quyền buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự và ngược lại, trách nhiệm hình sự của người phạm tội ở đây là trước Nhà nước, trước xã hội chứ không phải trước cơ quan, đơn vị hay bất kỳ cá nhân nào; - Trách nhiệm hình sự mang tính chất cá nhân và chỉ được áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm; đồng thời nó được thể hiện trong bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Bộ luật hình sự quy định. Bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là cơ sở pháp lý quan trọng xác nhận một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm chính thức bị coi là “có tội”.
Tóm lại, có tội phạm mới có người phạm tội, có người phạm tội mới đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự. Có tội phạm, có trách nhiệm hình sự mới có hình phạt, có trách nhiệm hình sự mới có miễn trách nhiệm hình sự. Nội dung của trách nhiệm hình sự được phản ánh và ghi nhận trực tiếp tại Điều 2 (Cơ sở của trách nhiệm hình sự), Điều 8 (Tội phạm), Điều 9 (Cố ý phạm tội), Điều 10 (Vô ý phạm tội), Điều 11 (Sự kiện bất ngờ), Điều 12 (Tuổi chịu trách nhiệm hình sự) và hàng loạt các điều luật khác trong Phần chung Bộ luật hình 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự xuyên suốt toàn bộ các quy định của toàn bộ Bộ luật hình sự. Một người - hay bất kỳ người nào chỉ có thể (hoặc) phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đầy đủ cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự đối với tội phạm được thực hiện.
Cơ sở của trách nhiệm hình sự dưới góc độ pháp lý được quy định tại Điều 2, còn những điều kiện của nó mặc dù chưa được quy định, nhưng có thể hiểu chúng tương ứng với năm đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của tội phạm mà GS. Lê Văn Cảm đã chỉ ra, bao gồm [9, tr.635]: - Người đó đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; - Hành vi do người đó thực hiện là tội phạm do Bộ luật hình sự quy định, xâm phạm đến các quan hệ được Bộ luật hình sự xác lập và bảo vệ; - Người thực hiện hành vi đó phải có lỗi (cố ý hoặc vô ý); - Người đó phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự; - Người đó phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, nếu trách nhiệm hình sự được đặt ra đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm, thì miễn trách nhiệm hình sự cũng được áp dụng với đối tượng này khi có các căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự. Do đó, trên bình diện pháp lý, xã hội, đây chính là đòi hỏi của nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam thể hiện ở chỗ, việc áp dụng trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự phải bình đẳng và đúng pháp luật đối với tất cả các trường hợp thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được Bộ luật hình sự quy định.
Như vậy, có khái niệm trách nhiệm hình sự mới có khái niệm miễn trách nhiệm hình sự. Miễn trách nhiệm hình sự đặt ra góp phần bảo đảm nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật hình sự. Tuy nhiên, tương tự như trách nhiệm hình sự, dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệm miễn trách nhiệm hình sự còn nhiều quan điểm khác nhau như sau: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Michael Bogdan và tập thể tác giả cho rằng: Miễn trách nhiệm hình sự là một nguyên tắc của luật hình sự dựa trên cơ sở xung đột về lợi ích, dùng để chỉ ra rằng không có tội phạm được thực hiện mặc dù trên thực tế hành vi của một người nào đó đã thỏa mãn cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan đối với một loại tội phạm. Nguyên tắc này được nhắc đến như là miễn trách nhiệm hình sự và không phải là miễn hình phạt bởi vì bị cáo không chỉ tránh khỏi hình phạt mà hơn thế nữa hành vi đó không được coi là tội phạm trong những điều kiện miễn trừ.
Quan điểm này chưa hợp lý vì không thể coi miễn trách nhiệm hình sự là “một nguyên tắc của luật hình sự.” và cũng không thể coi rằng “không có tội phạm được thực hiện mặc dù trên thực tế hành vi của một người nào đó đã thỏa mãn cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan đối với một loại tội phạm” vì về bản chất, hành vi của người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự đã thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm tương ứng nào đó trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự. Hơn nữa, người được miễn trách nhiệm hình sự hoàn toàn đáp ứng các điều kiện với tư cách là chủ thể của tội phạm. Miễn trách nhiệm hình sự khác biệt với trường hợp không có tội phạm trên thực tế về nội dung, điều kiện, đối tượng bị áp dụng, bản chất và hậu quả pháp lý. Hai tác giả Agnê Barans Kaitê và Jonas Prapiestis lại quan niệm: Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định được quy định trong luật hình sự.
phản ánh những nỗ lực của các nhà làm luật trong việc phối hợp và bảo đảm sự đồng thuận giữa các lợi ích khác nhau.