CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm KCN Từ những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, KCN đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triển. Ban đầu các KCN được xem như một mô hình quy hoạch công nghiệp. Với quá trình phát triển, KCN đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực, do vậy sau đó KCN được xem như một công cụ để phát triển kinh tế.
KCN xuất hiện ngày càng nhiều dưới những hình thức khác nhau và lợi ích thiết thực của việc phát triển KCN đã được nhiều nước trên thế giới thừa nhận. KháI niệm về KCN cũng được bàn cãi trong một thời gian dài, đên nay vẫn chưa đi đến thống nhất. Các KCN Việt Nam được ra đời vào những năm đầu thời kì đổi mới, được đánh dấu bằng sự khởi đầu của khu chế xuất Tân Thuận ( Tp Hồ Chí minh ) năm 1991. Thời gian gần đây, KCN đang được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở nước ta.
KháI niệm về KCN được Nhà Nước ta nêu rõ trong Quy chế khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), khu công nghệ cao (KCNC) ban hành kèm theo Nghị định 36-CP: KCN là “Khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lí xác định, không có dân cư sinh sống; do chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập” 2. Phân loại KCN: Phân thành ba nhóm + Nhóm 1: Các khu công nghiệp mang tính truyền thống. Loại hình này mang một số đặc trưng như sau: KCN là một khu vực được quy hoach mang tính liên vùng, liên lãnh thổ, có phạm vi ảnh hưởng sang các vùng lân cận, xung quanh. Nó được công ty cơ sở hạ tần sử dụng vào mục đích kinh doanh, công ty này có trách nhiệm Nghiêm Đình Thường 5 Kinh tế phát triển 46 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề tốt nghiệp bảo đảm hạ tầng kĩ thuật và xã hội của toàn bộ khu trong suốt quá trình tồng tại và phát triển.
Ngoài ra, trong KCN không có dân cư sinh sống, nhưng ngoài KCN phải có hệ thống dịch vụ phục vụ nguồn nhân lực làm việc ở KCN. KCN được quy hoạch riêng biệt để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước để thực hiện sản xuất và chế biến sản phẩm công nghiệp, cũng như hoạt động hỗ trợ, dịch vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp. Các doanh nghiệp trong KCN sản xuất ra những sản phẩm để cung cấp cho thị trường trong nước và cả thị trường xuất khẩu. + Nhóm 2: Khu chế xuất (KCX) KCX là “ KCN tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩi, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính Phủ hoặc Thủ tướng Chính Phủ quyết định thành lập” So với KCN truyền thống thi KCX có một số đặc điểm riêng.
Đó là: KDX được quy hoạch phân tách khỏi phần nội địa xung quanh bằng tường rào kiên cố, để ra vào KCX cần thông qua sự kiểm soát của hải quan và cơ quan chức năng. Các doanh nghiệp trong KCX chỉ được bán tối đa 20% giá trị sản phẩm của mình vào thị trường nội địa. Chủ yếu sản xuất ra sản phẩm để phục vu thị trường xuất khẩu. Ngoài ra, các doanh nghiệp trong KCX cũng được hưởng những ưu đãi dặc biệt về các lại thuế như: miễn thế xuất khẩu, nhập khẩu, miễn thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, được hưởng thế thu nhập doanh nghiệp ở mức ưu đãI là 10% và không phải chịu thuế chuyển lợi nhuận về nước của chủ đầu tư.
Nghiêm Đình Thường 6 Kinh tế phát triển 46 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề tốt nghiệp + Nhóm 3 : Các khu công nghệ cao (KCNC) KCNC là “ khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kĩ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vu cho phait triển công nghệ cao gồm nghiên cứu, triển khai Khoa học – công nghệ, đào tạo và các dịch vụ có liên quan, có ranh giới địa lý xác địnhm, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong KCNC có thẻ có doanh nghiệp chế xuất” KCNC cũng là một loại hình của KCN, tuy nhiên ngoài những đặc điểm chung của KCN truyền thống thì KCNC có những nét riêng biệt sau: Các doanh nghiệp trong KCNC hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ và chất xám cao như : nghiên cứu, triển khai khoa học công nghệ, đào tạo và thực hiện các dịch vụ có liên quan. Các doanh nghiệp trong KCNC đều đầu tư lớn cho nghiên cứu và phát triển, có năng suất lao động cao, được điều hành bởi các nhà khoa học và những công nhân có trình độ tay nghề cao. Công nghệ được sử dụng trong KCNC là những công nghệ mang tính tiên phong đi trước thời đại.
Có thể thấy rằng, giữa ba khái niệm này có liên quan với nhau. Nếu như khái niệm về khu công nghiệp truyền thống mang tính chất đặc trưng, thì KCX và KCNC mang tính chất là những hình thái đặc thùcủa KCN : KCX là KCN mà theo đó hàng hóa sản xuất ra chủ yếu để xuất khẩu. KCNC là KCN gắn với các hoạt động kỹ thuật, công nghệ cao. KCN, KCX, KCNC là các loại hình khác nhau của khu công nghiệp tập trung.
Trong đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu về khu công nghiệp truyền thống – là loại hình duy nhất phát triển trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Nghiêm Đình Thường 7 Kinh tế phát triển 46 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề tốt nghiệp 3. Tác động của phát triển KCN đến phát triển kinh tế. Tác động tích cực.
(1) Tác động tích cực đến quá trình công nghiệp hóa đất nước. Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh việc thực hiện công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH) nhằm thực hiện mục tiêu trang bị cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Để đẩy nhanh quá trình CNH – HĐH ở Việt Nam cần phải thực hiện một số tiền đề cần thiết : vốn tích lũy, đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật, công nhân lành nghề và cán bộ quản lý kinh doanh ; phát triển kết cấu hạ tầng và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, vai trò của Nhà nước. Phát triển KCN là một trong những giải pháp để tạo dựng các tiền đề nói trên, phát triển KCN là giải pháp tổng hợp, mang tính toàn diện giải quyết đồng thời các yêu cầu về vốn, lao động, khoa học – công nghệ, trình độ quản lý, là con đường tối ưu để tiến tới mục tiêu trang bị cơ sở kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
KCN huy động một lượng vốn lớn, từ nhiều nguồn để phát triển kinh tế “tính đến tháng 4 năm 2006, tổng số dự án trong các KCN thu hút vốn đầu tư trong nước là 2 400 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 116 000 tỷ đồng. Tổng số dự án có vốn đầu tư nước ngoài trong các KCN là 2 200 dự án với tổng vốn đăng ký đạt 17,7 tỷ USD” KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, hiện đại từ nước ngoài là chủ yếu, tập trung những ngành nghề mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH. Tóm lại thành công của mô hình KCN đã được khẳng định trên Thế giới và bước đầu đã thành công ở Việt Nam, như một đòn bẩy quan trọng để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Nghiêm Đình Thường 8 Kinh tế phát triển 46 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề tốt nghiệp (2) Tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực và có lợi.
Sự ra đời của các khu công nghiệp đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Xu hướng này là chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Bên cạnh đó, đối với cơ cấu theo thành phần sở hữu thì phát triển KCN làm tăng tỷ trọng thành phần ngoài quốc doanh, trong đó đầu tư nước ngoài là một nguồn đáng kể, điều này phù hợp với xu thế của nền kinh tế thị trường. (3) Tác động mạnh đến quá trình đô thị hóa.
Thực tế đã chứng minh, khi phát triển các KCN làm cho tiến trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ. Cụ thể là : Cơ sở hạ tầng trong KCN và quanh KCN được đầu tư xây dựng và nâng cấp, từ đó hình thành lên các thị tứ, thị trấn, nhiều nơi phát triển những thành phố sầm uất, có đầy đủ hệ thống điện, nước, giao thông phát triển, công trình phúc lợi hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế. Các KCN phát triển kéo theo cơ cấu lao động biến đổi. Lực lượng lao động trong ngành công nghiệp tăng lên, dẫn đến nâng cao tỷ lệ công nhân và dân cư thành thị.
(4) Tác động mạnh đến quá trình hoàn thiện môi trường đầu tư bằng các chính sách phù hợp. Nhằm thu hút đầu tư vào phát triển các KCN, Nhà nước ta đã đưa ra những chính sách nằm tăng cường sức hút cho các KCN. Ngoài ra, các KCN đã trở thành vườn ươm, là nơi thí điểm để đưa các cơ chế, chính sách tiến bộ vào thực tế như : cơ chế “một cửa tại chỗ”, cũng như nhiều chính sách khác về hoàn thiện thủ tục kiểm quan, phát triển hoạt động tài chính – ngân hàng có sự phối hợp quản lý của các KCN. Nghiêm Đình Thường 9 Kinh tế phát triển 46 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề tốt nghiệp (5) Kích thích phát triển các loại hình dịch vụ.
Sự phát triển các KCN tạo điều kiện cho sự xuất hiện các loại hình dịch vụ : điện, nước, dịch vụ ngân hàng – tài chính, xử lý chất thải, dịch vụ kho bãi, các dịch vụ cung ứng đảm bảo đời sống cho công nhân trong KCN. Các loại dịch vụ này là điều kiện tất yếu khách quan để phát triển KCN. (6) Tác động thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế. Chính KCN Là nơi thử nghiệm đầu tiên chính sách thông thoáng với các nhà đầu tư nước ngoài; tạo điều kiện cho các nhà đầu tư có môi trường thông thoáng thuận lợi để kinh doanh, từ đó tạo điều kiện cho việc mở rộng quan hệ thương mại quốc tế.