Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Việt Nam nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa trên bán đảo Đông Dương, sở hữu địa hình, cảnh quan và khí hậu phân hóa đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của các hệ sinh thái cùng khu hệ động thực vật phong phú, trong đó có lớp Bò sát (Reptilia). Bò sát giữ vai trò sinh thái và kinh tế quan trọng: cung cấp thực phẩm, dược liệu, nguyên liệu thuộc da, sinh vật cảnh, đồng thời là mắt xích kiểm soát các loài côn trùng phá hoại mùa màng và gặm nhấm gây hại. Tính đến năm 2018, hệ bò sát Việt Nam đã ghi nhận khoảng 438 loài (Uetz & Hosek, 2018) cùng nhiều phát hiện mới liên tục được công bố. Tuy nhiên, trước các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường sống và tình trạng khai thác quá mức, số lượng cá thể của nhiều loài bò sát đang suy giảm nghiêm trọng.
Về phương diện giáo dục, lớp Bò sát được đưa vào giảng dạy từ cấp Tiểu học trong môn Khoa học tự nhiên và được cấu trúc chi tiết tại Chương VI thuộc môn Sinh học lớp 7 (chương trình hiện hành). Đặc thù của môn học đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và trực quan thực hành nhằm giúp học sinh tiếp thu kiến thức bản chất. Dù vậy, thực tế tại Phòng thí nghiệm Động vật học (Khoa Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Hồng Đức) cho thấy bộ mẫu vật bò sát còn tản mát, thiếu đồng bộ, nhiều mẫu hư hỏng nặng và chưa có hệ thống phân loại chuẩn phục vụ nghiên cứu, đào tạo. Đồng thời, giáo viên phổ thông thường gặp khó khăn do thiếu mẫu vật thật hoặc sử dụng các video trên mạng có thời lượng dài, chưa được biên tập sư phạm. Xuất phát từ bối cảnh đó, đề tài "Xây dựng bộ mẫu, tư liệu Bò sát ở Trường Đại học Hồng Đức và bước đầu sử dụng vào dạy học Sinh học 7" được triển khai.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận gồm:
- Xây dựng bộ mẫu Bò sát đạt tiêu chuẩn khoa học và thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu mẫu vật tại Trường Đại học Hồng Đức.
- Xây dựng hệ thống tư liệu hình ảnh và video chuyên đề về bò sát.
- Vận dụng bộ mẫu và tư liệu đã xây dựng vào quá trình dạy học Chương VI – Sinh học 7 nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và nghiên cứu khoa học.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 5 nội dung chính:
- Tổng quan các tài liệu nghiên cứu về bò sát và phương tiện dạy học liên quan.
- Xây dựng danh lục thành phần loài và cơ sở dữ liệu cho các mẫu bò sát hiện có tại Phòng thí nghiệm Động vật học, Khoa Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Hồng Đức.
- Đánh giá giá trị bảo tồn, tính đặc hữu và đề xuất hướng khai thác sử dụng bộ mẫu.
- Xây dựng bộ tư liệu trực quan gồm hình ảnh và video về tập tính, cấu tạo ngoài, cấu tạo trong và sự đa dạng của bò sát.
- Thiết kế giáo án, tổ chức dạy thực nghiệm và đánh giá hiệu quả tiếp thu kiến thức của học sinh lớp 7.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Bộ mẫu bò sát hiện có tại phòng thực hành Động vật học (phòng 307 nhà A2, Trường Đại học Hồng Đức) được thu thập từ nhiều địa phương; các đại diện lớp Bò sát trong chương trình Sinh học 7.
- Phạm vi không gian: Phòng thực hành Động vật học - Trường Đại học Hồng Đức; Trường THCS Kiên Thọ (huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa) và Trường THCS Quảng Đại (thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa).
- Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện từ tháng 09/2017 đến tháng 05/2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng lý thuyết hình thái học so sánh, nguyên lý phân loại học động vật có xương sống và các phương pháp sư phạm thực nghiệm. Quá trình định danh hình thái dựa vào các chỉ số sai khác về vảy và khiên:
- Đối với nhóm thằn lằn (Sauria): khảo sát các tấm khiên đầu (trước trán, trước ổ mắt, trán, đỉnh, gian đỉnh), cấu tạo mắt, lỗ tai, xương khẩu cái, mặt dưới bàn chân, vảy bụng, vảy đuôi, lỗ trước hậu môn và lỗ đùi.
- Đối với nhóm rắn (Serpentes): phân tích vảy và tấm trên đầu (môi trên, môi dưới, gian mũi, trước trán, trán, thái dương), cách đếm hàng vảy thân (đếm hình chữ V hoặc so le), đặc điểm vảy bụng (V), vảy dưới đuôi (SC nguyên hay kép) và vảy hậu môn (A nguyên hay chia).
Khóa phân loại và tài liệu đối chiếu hình thái bao gồm:
- Khóa định loại của Đào Văn Tiến (1979, 1981, 1982), Bourret (1936), Smith (1943), Campden-Main (1970).
- Danh lục và khóa nhận dạng tham khảo từ Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường (2005) và Hoàng Xuân Quang cùng cộng sự (2012).
Văn bản quy phạm đánh giá tình trạng bảo tồn và tính đặc hữu:
- Sách Đỏ Việt Nam (2007).
- Nghị định số 32/2006/NĐ-CP và Nghị định 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ.
- Danh lục Đỏ của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 2017).
- Công ước quốc tế về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES, 2013).
Phương pháp bảo quản và xử lý mẫu vật:
Mẫu vật sau khi định loại được xử lý định hình theo tư thế tự nhiên, ngâm ngập trong dung dịch cồn 70° bên trong các bô can chuyên dụng (nhựa hoặc thủy tinh) có nắp kín. Nhãn lưu trữ ngoài bô can ghi rõ: tên khoa học (Latinh), tên phổ thông, địa điểm, thời gian thu mẫu, người thu mẫu và người định loại. Tiêu chí phân hạng hiện trạng mẫu vật áp dụng theo Lưu Đàm Cư và cộng sự (2011) với 3 mức: loại A (mẫu toàn vẹn, đủ lý lịch, bảo quản tốt), loại B (mẫu nguyên vẹn nhưng thiếu thông tin lý lịch), loại C (mẫu hư hỏng, mất giá trị phân loại).
Phương pháp công nghệ và xử lý số liệu:
- Thu thập dữ liệu đa phương tiện qua công cụ tìm kiếm Google; biên tập và cắt nối video bài giảng bằng phần mềm Free Video Cutter Joiner qua quy trình kỹ thuật 7 bước.
- Quản lý cơ sở dữ liệu mẫu bằng Microsoft Excel.
- Xử lý thống kê kết quả thực nghiệm sư phạm bằng phần mềm GraphPad và Excel với các tham số: điểm trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn (SD) và kiểm định T-test độc lập nhằm đánh giá ý nghĩa sai khác giữa nhóm đối chứng và thực nghiệm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày toàn bộ cơ sở phương pháp luận và tiến trình kỹ thuật của khóa luận. Tác giả xác định đối tượng nghiên cứu là 454 mẫu vật bò sát lưu trữ tại phòng 307 nhà A2 thuộc Trường Đại học Hồng Đức cùng học sinh khối 7 tại hai trường THCS ở Thanh Hóa. Khung phương pháp nghiên cứu gồm 8 nhóm phương pháp:
- Phương pháp lý thuyết: phân tích chương trình Sinh học 7, tài liệu phân loại học.
- Phương pháp phòng thí nghiệm: đo đếm hình thái, giải phẫu so sánh vảy và khiên.
- Phương pháp định loại bò sát: áp dụng các hệ thống khóa lưỡng phân cổ điển và cập nhật.
- Phương pháp bảo quản mẫu: chế tác mẫu ngâm cồn 70°, dán nhãn định danh và thiết lập trường dữ liệu lưu trữ.
- Đánh giá bảo tồn: xếp hạng theo 5 thang bậc quy chuẩn quốc gia và quốc tế.
- Phương pháp chuyên gia: tham vấn ý kiến các nhà động vật học và sư phạm.
- Phương pháp công nghệ thông tin: xử lý dữ liệu số hóa và dựng video giảng dạy.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: tiến hành trên nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm.
Chương 2: Tổng quan tài liệu
Chương 2 tổng hợp lịch sử nghiên cứu lớp Bò sát trên thế giới và tại Việt Nam qua 4 giai đoạn phát triển:
- Giai đoạn trước năm 1954: Các ghi nhận dược liệu ban đầu của Tuệ Tĩnh (ghi nhận 16 vị thuốc từ lưỡng cư, bò sát) và các công trình nền tảng của các học giả phương Tây như Bourret (1936, 1941, 1942), Smith (1921, 1935, 1943) với tổng kết 177 loài/phân loài thằn lằn, 245 loài/phân loài rắn, 45 loài/phân loài rùa ở Đông Dương.
- Giai đoạn 1954 – 1975: Đóng góp của Đào Văn Tiến, Trần Kiên, Lê Vũ Khôi ở miền Bắc và Campden-Main (1970) ở miền Nam.
- Giai đoạn 1975 – 1996: Các cuộc khảo sát diện rộng của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội 1, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; số loài ghi nhận đạt 340 loài vào năm 1996.
- Giai đoạn từ năm 1996 đến nay: Ứng dụng công nghệ sinh học phân tử kết hợp hình thái học, phát hiện hàng loạt đơn vị phân loại mới; số lượng loài bò sát và lưỡng cư nâng lên 458 loài (năm 2005), 545 loài (năm 2009) và đạt 737 loài (năm 2018).
Nội dung chương cũng khái quát hệ thống bảo tàng tự nhiên tại Việt Nam (Bảo tàng Sinh học ĐHKHTN Hà Nội với 1.400 mẫu, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam), đồng thời hệ thống hóa đặc điểm giải phẫu - sinh lý của lớp Bò sát: da khô phủ vảy sừng, nền sọ một lồi cầu chẩm, cột sống chia 5 phần, tim 3 ngăn có vách hụt ở tâm thất, thiếu tĩnh mạch da, 3 cung động mạch độc lập, phổi xốp chia phế nang, cơ quan bài tiết hậu thận và 12 đôi dây thần kinh não. Phần cuối chương đánh giá thực trạng sử dụng phương tiện trực quan tại trường phổ thông, chỉ ra tình trạng giáo viên ít sử dụng vật thật và thiếu học liệu video chuẩn hóa.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 là phần trọng tâm của khóa luận, bao gồm các phát hiện và dẫn liệu định lượng cụ thể:
Cấu trúc phân loại học bộ mẫu:
Từ 454 mẫu vật lưu giữ, tác giả định danh được 67 loài thuộc 43 giống, 13 họ, nằm trong 1 bộ duy nhất là Bộ có vảy (Squamata), bao gồm 2 phân bộ: Phân bộ Thằn lằn (Sauria) và Phân bộ Rắn (Serpentes).
| TT |
Phân bộ / Họ |
Số giống |
Tỉ lệ giống (%) |
Số loài |
Tỉ lệ loài (%) |
| I |
Phân bộ Thằn lằn (Sauria) |
|
|
|
|
| 1 |
Họ Nhông (Agamidae) |
7 |
16,28 |
12 |
17,91 |
| 2 |
Họ Tắc kè (Gekkonidae) |
2 |
4,64 |
2 |
2,99 |
| 3 |
Họ Kỳ đà (Varanidae) |
1 |
2,33 |
1 |
1,49 |
| 4 |
Họ Thằn lằn chính thức (Lacertidae) |
1 |
2,33 |
2 |
2,99 |
| 5 |
Họ Thằn lằn bóng (Scincidae) |
5 |
11,60 |
6 |
8,96 |
| 6 |
Họ Thằn lằn rắn (Anguidae) |
1 |
2,33 |
1 |
1,49 |
| II |
Phân bộ Rắn (Serpentes) |
|
|
|
|
| 7 |
Họ Rắn giun (Typhlopidae) |
1 |
2,33 |
1 |
1,49 |
| 8 |
Họ Rắn hai đầu (Cylindrophiidae) |
1 |
2,33 |
1 |
1,49 |
| 9 |
Họ Trăn (Pythonidae) |
1 |
2,33 |
1 |
1,49 |
| 10 |
Họ Rắn nước (Colubridae) |
17 |
39,50 |
31 |
46,27 |
| 11 |
Họ Rắn mống (Xenopeltidae) |
1 |
2,33 |
1 |
1,49 |
| 12 |
Họ Rắn hổ (Elapidae) |
3 |
6,98 |
6 |
8,96 |
| 13 |
Họ Rắn lục (Viperidae) |
2 |
4,65 |
2 |
2,99 |
| Tổng |
1 Bộ (Squamata), 13 Họ |
43 |
100,00 |
67 |
100,00 |
Giá trị bảo tồn và tính đặc hữu:
Bộ mẫu có 10 loài quý hiếm (chiếm 14,93% tổng số loài), cụ thể:
- Sách Đỏ Việt Nam (2007): 1 loài Cực kỳ nguy cấp (CR: Trăn đất Python molurus), 6 loài Nguy cấp (EN: Varanus salvator, Ptyas korros, Ptyas mucosa, Bungarus fasciatus, Naja atra, Naja kaouthia), 3 loài Sẽ nguy cấp (VU: Gekko gecko, Physignathus cocincinus, Coelognathus radiatus).
- Danh lục Đỏ IUCN (2017): 2 loài ở cấp VU (Python molurus, Naja atra).
- Nghị định 32/2006/NĐ-CP: 1 loài thuộc nhóm IB (Varanus salvator), 6 loài thuộc nhóm IIB (Python molurus, Coelognathus radiatus, Ptyas mucosa, Bungarus fasciatus, Naja atra, Naja kaouthia).
- Công ước CITES: 1 loài Phụ lục I (Python molurus), 4 loài Phụ lục II (Varanus salvator, Ptyas mucosa, Naja atra, Naja kaouthia).
- Tính đặc hữu: Ghi nhận 2 loài đặc hữu Đông Dương gồm Nhông cát sọc (Leiolepis guentherpetersi) và Ôrô natalia (Acanthosaura nataliae).
Bổ sung vùng phân bố địa lý:
So sánh với tài liệu tổng kết của Nguyen et al. (2009), bộ mẫu cung cấp dữ liệu bổ sung vùng phân bố mới cho 12 loài bò sát tại Việt Nam:
| TT |
Tên khoa học |
Tên tiếng Việt |
Địa phương ghi nhận bổ sung |
| 1 |
Acanthosaura capra |
Ôrô capra |
Đắk Nông |
| 2 |
Acanthosaura nataliae |
Ôrô natalia |
Kiên Giang |
| 3 |
Bronchocela vietnamensis |
Nhông đuôi dài việt nam |
Đắk Nông |
| 4 |
Calotes mystaceus |
Nhông xám |
Điện Biên |
| 5 |
Physignathus cocincinus |
Rồng đất |
Điện Biên, Vĩnh Phúc, Đắk Nông |
| 6 |
Typhlops braminus |
Rắn giun thường |
Hậu Giang |
| 7 |
Ahaetulla nasuta |
Rắn roi mõm nhọn |
Hà Giang |
| 8 |
Dendrelaphis ngansonensis |
Rắn leo cây ngân sơn |
Vĩnh Phúc |
| 9 |
Lycodon laoensis |
Rắn khuyết lào |
Vĩnh Phúc |
| 10 |
Oligodon mouhoti |
Rắn kiếm mouhoti |
Hậu Giang |
| 11 |
Sinonatrix aequifasciata |
Rắn hoa cân vân đốm |
Sơn La, Thanh Hóa |
| 12 |
Sinonatrix percarinata |
Rắn hoa cân vân đen |
Thanh Hóa |
Hiện trạng mẫu vật và cơ sở dữ liệu:
Trong tổng số 454 mẫu vật, có 356 mẫu đạt loại A (chiếm 78,4%), 98 mẫu xếp loại B (chiếm 21,6%) và 0 mẫu loại C. Toàn bộ thông tin được lập bảng số hóa trên Excel gồm 7 trường: Ký hiệu mẫu, tên khoa học, tên Việt Nam, số lượng, địa điểm thu mẫu, người thu mẫu, ngày thu mẫu.
Xây dựng học liệu và thực nghiệm sư phạm:
- Đã tuyển chọn 15 hình ảnh giải phẫu, hình thái và 6 video clip chuyên đề đã qua cắt lọc bằng phần mềm Free Video Cutter Joiner.
- Tổ chức dạy học thực nghiệm tại THCS Kiên Thọ (lớp thực nghiệm 7A1, lớp đối chứng 7A2) và THCS Quảng Đại (lớp đối chứng 7B cùng lớp thực nghiệm tương đương).
- Kết quả kiểm định thống kê qua các bài khảo sát cho thấy điểm trung bình ($\bar{X}$) của nhóm thực nghiệm cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng, độ lệch chuẩn (SD) thấp hơn, và phép kiểm định T-test độc lập xác nhận sự sai khác về kết quả tiếp thu kiến thức giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể sau:
- Định danh chính xác 454 mẫu vật thuộc 67 loài, 43 giống, 13 họ, thuộc bộ Squamata tại Trường Đại học Hồng Đức; phân loại hiện trạng bảo quản với 78,4% mẫu đạt chuẩn loại A.
- Xác định giá trị bảo tồn của bộ mẫu với 10 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), 7 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP, 5 loài thuộc phụ lục CITES, 2 loài trong Danh lục Đỏ IUCN và 2 loài đặc hữu Đông Dương.
- Đóng góp dẫn liệu khoa học mới về vùng phân bố địa lý cho 12 loài bò sát tại các tỉnh Điện Biên, Hà Giang, Sơn La, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Đắk Nông, Hậu Giang, Kiên Giang.
- Xây dựng gói học liệu số gồm 15 hình ảnh cấu tạo và 6 video tập tính - giải phẫu bò sát được cắt chỉnh chuẩn mực; thiết kế bộ giáo án tích hợp mẫu vật và tư liệu trực quan.
- Chứng minh bằng thực nghiệm sư phạm: việc kết hợp mẫu ngâm cồn và video xử lý chuyên dụng làm tăng tỷ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi, hỗ trợ phát triển năng lực tư duy sinh học ở học sinh THCS.
Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:
- Trưng bày bộ mẫu trong hệ thống tủ kính chuyên dụng của bộ môn Động vật học nhằm phục vụ đào tạo các hệ đại học và sau đại học.
- Tiếp tục phân tích, định loại số lượng mẫu vật còn tồn đọng trong kho lưu trữ của nhà trường.
- Nâng cấp cơ sở dữ liệu mẫu vật từ định dạng Microsoft Excel sang phần mềm quản trị bảo tàng chuyên ngành để phục vụ tra cứu trực tuyến.
- Phổ biến rộng rãi các video bài giảng đã được tinh lọc cho các trường THCS trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Cơ sở dữ liệu mẫu vật mới dừng lại ở việc quản lý bảng tính trên Microsoft Excel, chưa xây dựng được hệ thống phần mềm quản lý mẫu chuyên nghiệp có tính năng tra cứu tương tác cao.
- Một số lượng mẫu vật tồn trữ tại phòng thí nghiệm vẫn chưa được giám định và định danh hết do hạn chế về thời gian thực hiện đề tài.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Hoàn thiện định loại toàn bộ các mẫu vật bò sát còn lại trong bộ sưu tập của Trường Đại học Hồng Đức nhằm bổ sung thêm thành phần loài.
- Thiết kế phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu chuyên biệt phục vụ công tác số hóa, tra cứu và liên kết dữ liệu bảo tàng sinh vật.
- Mở rộng phạm vi ứng dụng bộ mẫu và hệ thống học liệu đa phương tiện vào các học phần chuyên sâu bậc đại học (Động vật học, Đa dạng sinh học) và sau đại học (Lưỡng cư bò sát học, Nguyên tắc phân loại động vật).
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích cho các nhóm đối tượng và mục đích sau:
- Sinh viên và học viên cao học ngành Sư phạm Sinh học, Sinh học, Quản lý tài nguyên rừng: Có thể tham khảo phương pháp phân tích đặc điểm hình thái học thằn lằn và rắn (cách đếm hàng vảy, nhận diện khiên đầu, vảy bụng, vảy đuôi) và quy trình xử lý, ngâm cồn, phân hạng bảo quản mẫu vật bảo tàng theo tiêu chuẩn kỹ thuật.
- Giáo viên Sinh học tại các trường THCS: Trực tiếp khai thác 15 hình ảnh giải phẫu và 6 video clip chuyên đề về tập tính, cấu tạo của bò sát để ứng dụng vào các bài dạy Chương VI (Sinh học 7), giúp học sinh tiếp cận kiến thức trực quan sinh động mà không bị phân tán bởi video dài trên mạng.
- Các nhà nghiên cứu khu hệ bò sát: Tham khảo danh lục 67 loài và dữ liệu bổ sung vùng phân bố mới của 12 loài tại 16 tỉnh thành trên cả nước để phục vụ các nghiên cứu phân bố học và bảo tồn động vật hoang dã.
Câu hỏi thường gặp
1. Bộ mẫu bò sát tại Trường Đại học Hồng Đức có quy mô bao nhiêu và cấu trúc taxon như thế nào?
Bộ mẫu gồm 454 mẫu vật, được định danh thành 67 loài thuộc 43 giống, 13 họ, thuộc 1 bộ duy nhất là Bộ có vảy (Squamata). Trong đó, họ Rắn nước (Colubridae) chiếm ưu thế lớn nhất với 17 giống (39,5%) và 31 loài (46,27%), tiếp đến là họ Nhông (Agamidae) với 7 giống (16,28%) và 12 loài (17,91%).
2. Bộ mẫu lưu trữ bao nhiêu loài bò sát quý hiếm và đặc hữu?
Bộ mẫu có 10 loài quý hiếm ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) (1 loài CR, 6 loài EN, 3 loài VU); 7 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP (1 loài nhóm IB là Kỳ đà hoa Varanus salvator, 6 loài nhóm IIB); 5 loài thuộc Công ước CITES (1 loài Phụ lục I là Trăn đất Python molurus, 4 loài Phụ lục II); 2 loài cấp VU theo IUCN (2017). Ngoài ra có 2 loài đặc hữu khu vực Đông Dương là Nhông cát sọc (Leiolepis guentherpetersi) và Ôrô natalia (Acanthosaura nataliae).
3. Khóa luận đã bổ sung vùng phân bố địa lý mới cho những loài bò sát nào?
Dựa trên đối chiếu với tài liệu của Nguyen et al. (2009), đề tài bổ sung vùng phân bố cho 12 loài: Acanthosaura capra (Đắk Nông), Acanthosaura nataliae (Kiên Giang), Bronchocela vietnamensis (Đắk Nông), Calotes mystaceus (Điện Biên), Physignathus cocincinus (Điện Biên, Vĩnh Phúc, Đắk Nông), Typhlops braminus (Hậu Giang), Ahaetulla nasuta (Hà Giang), Dendrelaphis ngansonensis (Vĩnh Phúc), Lycodon laoensis (Vĩnh Phúc), Oligodon mouhoti (Hậu Giang), Sinonatrix aequifasciata (Sơn La, Thanh Hóa) và Sinonatrix percarinata (Thanh Hóa).
4. Hiện trạng chất lượng mẫu vật của bộ sưu tập được xếp loại ra sao?
Theo tiêu chuẩn đánh giá của Lưu Đàm Cư và cs. (2011), trong số 454 mẫu vật có 356 mẫu xếp loại A (đạt 78,4%, gồm mẫu nguyên vẹn, đầy đủ lý lịch, xử lý tốt), 98 mẫu xếp loại B (đạt 21,6%, mẫu toàn vẹn nhưng lý lịch chưa đầy đủ) và không có mẫu nào thuộc loại C (hư hỏng, mất giá trị).
5. Quy trình kỹ thuật dựng video bài giảng Sinh học 7 được thực hiện qua những bước nào?
Tác giả thu thập video nguồn từ Google, sau đó sử dụng phần mềm Free Video Cutter Joiner qua 7 bước: khởi động công cụ Video Cutter, thêm tệp video qua dấu (+), chọn chế độ xem All Files, thiết lập điểm đầu (Start Point) và điểm cuối (End Point), nhấn Cut, chọn chế độ xuất tệp (Direct Cut hoặc Indirect Cut để chỉnh thông số khung hình/chất lượng) và xác định thư mục đầu ra rồi hoàn tất biên tập.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Trang đã xử lý, định loại thành công 454 mẫu vật bò sát tại Trường Đại học Hồng Đức thành 67 loài thuộc 43 giống và 13 họ, ghi nhận 10 loài quý hiếm, 2 loài đặc hữu và bổ sung dẫn liệu phân bố cho 12 loài bò sát tại Việt Nam. Đề tài đã xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu mẫu vật trên bảng tính cùng bộ tư liệu dạy học gồm 15 hình ảnh và 6 video clip chuyên đề đã qua biên tập kỹ thuật. Kết quả dạy học thực nghiệm tại hai trường THCS Kiên Thọ và Quảng Đại khẳng định việc kết hợp mẫu vật thật với tư liệu đa phương tiện giúp nâng cao rõ rệt kết quả học tập môn Sinh học 7. Công trình có ý nghĩa học thuật thiết thực đối với công tác lưu trữ mẫu vật động vật học và đổi mới phương pháp giảng dạy sinh thái - động vật học ở các cấp học.