ĐẶT VẤN ĐỀ Khu Quần thể Tràng An đƣợc UNESCO công nhận ngày 25/6/2014 với diện tích là 6226ha và bao quanh là vùng đệm rộng với 6026ha [21]. Quần thể danh thắng Tràng An nằm trên địa phận tỉnh Ninh Bình, cách thủ đô Hà Nội khoảng 90 km về phía Nam và cách Thành phố Ninh Bình 8 km về phía Tây. Hệ sinh thái đặc trƣng ở khu vực là rừng trên núi đá vôi ở độ cao dƣới 200 m so với mực nƣớc biển và bao quanh bởi các vùng đất ngập nƣớc tạo thành các đảo núi đá vôi. Hệ thống hang động ở đây rất phát triển, ở độ cao từ 1-150 m [51].
Những yếu tố tự nhiên trên đã tạo điều kiện cho các loài sinh vật sinh sống và phát triển. Vì những đặc trƣng trên, vào ngày 25 tháng 6 năm 2014 Tràng An đã đƣợc UNESCO là khu di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới. Bảo tồn Tràng An không chỉ trú trọng đến các giá trị văn hóa lịch sử mà cần quan tâm đến cả các hệ sinh thái tự nhiên cùng các loài động thực vật hoang dã không thể tách dời quần thể danh thắng này. Thông tin về tính đa dạng sinh học của một nhóm loài sinh vật nào đó là cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn chúng.
Theo mục tiêu khác nhau của công tác quản lý sẽ yêu cầu khác nhau về mức độ chi tiết của thông tin. Tại khu vực Tràng An đã có một số nghiên cứu ban đầu về đa dạng sinh học (Hoàng Thị Tƣơi và Lƣu Quang Vinh, 2017); tuy nhiên nghiên cứu mới dừng lại ở thống kê, đánh giá tính đa dạng về thành phần loài; thậm chí một số nhóm loài nhƣ Bò sát (Reptilia) thông tin đó vẫn còn thiếu và tản mạn. Bởi vậy, tôi chọn đề tài: “Đa dạng sinh học Bò sát (Reptilia) tại Khu di sản thiên nhiên- văn hóa thế giới Tràng An, tỉnh Ninh Bình”. Với mong muốn, cung cấp thông tin cập nhật nhất về đa dạng sinh học của nhóm Bò sát tại khu vực nghiên cứu; từ đó định hƣớng công tác quản lý tài nguyên bò sát, góp phần bảo tồn toàn vẹn quần thể danh thắng Tràng An.
c 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lƣợc sử nghiên cứu về đa dạng sinh học bò sát tại Việt Nam Lịch sử nghiên cứu về bò sát ở Việt Nam có quá trình phát triển khá lâu đời và có thể đƣơc chia ra làm 3 giai đoạn: thời kì thứ nhất là từ năm 1954 trở về trƣớc, thời kì thứ 2 là từ năm 1954 đến năm 1975 và thời kì thứ 3 là 1975 đến nay. Giai đoạn thứ 1: trước năm 1954 Danh Y Tuệ Tĩnh (1623-1713) đƣợc coi là ngƣời đầu tiên nghiên cứu bò sát ở Việt Nam. Ông đã thống kê đƣợc nhiều vị thuốc có nguồn gốc từ bò sát (Tuệ Tĩnh, bản in lại 1972) [10].
Sau đó những nghiên cứu về bò sát hoàn toàn là do ngƣời nƣớc ngoài thực hiện. Các kết quả nghiên cứu đƣợc xuất bản trên nhiều ấn phẩm khác nhau cả trong nƣớc và ngoài nƣớc cho một khu vực hay chung cho cả vùng Đông Dƣơng. Trong các công trình sau đó của mình Bourret (1937) mô tả đặc điểm hình thái 32 loài thằn lằn có ở Đông Dƣơng [19]; đặc điểm hình thái các loài rắn độc ở Đông Dƣơng đƣợc mô tả năm 1938 [22]. Nửa đầu thế kỷ XX, ba cuốn chuyên khảo của Bourret gồm Les Serpents de l‟Indochine xuất bản năm 1936 [23], Les Tortues de l‟Indochine xuất bản năm 1941 và Les Batraciens de l‟Indochine xuất bản năm 1942 đƣợc coi là tài liệu đầy đủ nhất ở thời điểm đó về thành phần bò sát của vùng Đông Dƣơng (Việt Nam, Lào và Campuchia).
Tác giả này đã ghi nhận 177 loài và phân loài thằn lằn, 245 loài và phân loài rắn, 45 loài và phân loài rùa ở vùng Đông Dƣơng. c 3 Cùng với Bourret, Smith cũng có đóng góp quan trọng trong nghiên cứu Bò sát ở Việt Nam. Trong chuyên khảo của Smith (1943) tác giả đã trình bày về phƣơng pháp nghiên cứu, mô tả và lập các khóa phân loại về rắn ở Ấn Độ và Đông Dƣơng [38], đây là tài liệu đƣợc nhiều tác giả Việt Nam dùng để định tên nhiều loài rắn ở nƣớc ta. Giai đoạn thứ 2: từ 1954 đến 1975 Bởi Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nên việc nghiên cứu về Bò sát bị gián đoạn.
Trong thời gian này hầu nhƣ không có công trình nghiên cứu Bò sát ở Việt Nam Công trình nghiên cứu của Đào Văn Tiến và cộng sự, tại Vĩnh Linh- Quảng Trị (1956), thống kê đƣợc 7 loài thằn lằn, 4 loài rắn, 2 loài rùa, trong đó có thêm 2 loài mới; tại Đình Cả- Thái Nguyên (1962) đã bổ sung thêm 2 loài Trăn đất (Python molusus) và Ba ba gai (Trionyx steindachneri) [3]. Ngoài ra còn có các nghiên cứu của nhiều nhà khoa học: Võ Quý (1961), Lê Vũ Khôi (1962), Trần Ngọc Tuấn (1965), Nguyễn Văn Sáng (1967), Nguyên Quốc Thắng (1968). Thời kì này cũng đã xuất hiện về nghiên cứu sinh thái, sinh học nhƣ: Nghiên cứu sinh thái Thạch sùng, Cá cóc của Đào Văn Tiến và Lê Vũ Khôi (1965), sinh thái, sinh học của Rắn hổ mang của Trần kiên và Lê Nguyên Ngật (1991). Giai đoạn thứ 3: từ 1975 đến nay Trong báo cáo của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nƣớc, 1981 về Lƣỡng cƣ Bò sát miền Bắc Việt Nam (1956-1976), đã trình bày sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu BS Việt Nam từ đầu cho đến những năm 70 của thế kỷ XX.
Các vùng nghiên cứu gồm: Vĩnh Linh, Lạng Sơn, Hà Bắc, Quảng Ninh, Vĩnh Phú, Bắc Thái, Yên Bái, Hà Tây, Hòa Bình, Ninh Bình, Hà Tĩnh, Vịnh Bắc Bộ từ 1956-1975, kết quả đã ghi nhận 159 loài Bò sát [11]. c 4 Thời kỳ 1975-1986: Đào Văn Tiến đã thống kê ở Việt Nam có 77 loài Thằn lằn, 165 loài rắn, 32 loài rùa và 2 loài cá sấu [3]. Tài liệu tổng kết về các kết quả khảo sát ở miền Bắc của Trần Kiên và các cs. Thời kỳ 1987–2009: Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đã tổng kết ở nƣớc ta có, 258 loài Bò sát [8], đến năm 2005 tổng số loài đã lên tới 296 loài Bò sát [9] và cuốn danh lục mới xuất bản năm 2009 đã ghi nhận tổng số loài 368 loài Bò sát [31].
Một số kết quả nghiên cứu tiêu biểu ở vùng núi đá vôi phải kể đến nhƣ: Ziegler và Vũ Ngọc Thành (2009) đã thống kê có 93 loài bò sát tại VQG Phong Nha- Kẻ Bàng [43]. Lƣu Quang Vinh và cộng sự (2013) đã cập nhật thông tin về 101 loài cho khu hệ bò sát Việt Nam,trong đó ghi nhận thêm nhiều loài mới cho VQG Phong Nha – Kẻ Bàng. Nhiều loài Bò sát mới đƣợc ghi nhận và công bố từ năm 2010 đến năm 2016 nhƣ:. Cnemaspis psychedelica Grismer, Ngo & Grismer, 2010; Calamaria concolor Orlov, Truong, Tao, Ananjeva & Cuc, 2010; Tropidophorus boehmei Nguyen, Nguyen, Schmitz, & Ziegler, 2010; Scincella darevskii Nguyen, Ananjeva,, Orlov, Rybaltovsky & Bohme, 2010; Scincella apraefrontalis Nguyen, Nguyen, Bohme & Ziegler, 2010; Scincella apraefrontalis Nguyen, Nguyen, Böhme & Ziegler 2010; Acanthosaura brachypoda Ananjeva, Orlov, Nguyen & Ryabov, 2011; Cyrtodactylus huongsonensis Luu, Nguyen, Do & Ziegler, 2011; Cyrtodactylus bidoupimontis Narazov, Poyarkov, Orlov, Phung, Nguyen, Hoang & Ziegler, 2012; Cyrtodactylus bugiamapensis Narazov, Poyarkov, Orlov, Phung, Nguyen, Hoang & Ziegler, 2012; Cyrtodactylus thochuensis Ngo Van Tri & Grismer, 2012; Cyrtodactylus dati Ngo Van Tri, 2013; Cyrtodactylus kingsadai Ziegler, Phung, Le & Nguyen, 2013; Cyrtodactylus phuocbinhensis c 5 Nguyen, Le, Tran, Orlov, Lathrop, Macculloch, Le, Jin, Nguyen, Nguyen, Hoang, Che, Murphy & Zhang, 2013; Cyrtodactylus taynguyenensis Nguyen, Le, Tran, Orlov, Lathrop, Macculloch, Le, Jin, Nguyen, Nguyen, Hoang, Che, Murphy & Zhang, 2013; Oligodon cattienensis Vassilievia, Geissler, Galoyan, Poyakov Jr, Van Devender & BÖhem, 2013; Cyrtodactylus cucdongensis Schneider, Phung, Le, Nguyen & Ziegler, 2014; Cyrtodactylus puhuensis Nguyen, Yang, Thi Le, Nguyen, Orlov, Hoang, Nguyen, Jin, Rao, Hoang, Che, Murphy & Zhang, 2014; Cyrtodactylus thuongae Phung, Van Schingen, Ziegler & Nguyen, 2014; Cylindrophis jodiae Amarasinghe, Ineich, Campbell & Hallermann, 2015; Cyrtodactylus bobrovi Nguyen, Le, Van Pham, Ngo, Hoang, The Pham & Ziegler, 2015; Cyrtodactylus otai Nguyen, Le, Van Pham, Ngo, Hoang, The Phem & Ziegler, 2015; Dixonius taoi Botov, Phung, Nguyen, Bauer, Brennan & Ziegler, 2015;.
Mới đây nhất năm 2016 đã tìm ra đƣợc 3 loài mới là: Cyrtodactylus soni Le, Nguyen, Le & Ziegler, 2016; Dixonius minhlei Ziegler, Botov, Nguyen, Bauer, Brennan, Ngo & Nguyen, 2016; Oligodon condaoensis Nguyen, Nguyen, Le & Murphy, 2016 [41]. Nhƣ vậy; Việt Nam là một trong những quốc gia có khu hệ bò sát đa dạng nhất thế giới với hơn 470 loài (Uetz & Hošek, 2017). Tại Việt Nam, bò sát có mặt hầu khắp cả 3 vùng địa hình là: Đồng Bằng, Trung Du và Miền Núi. Số lƣợng các loài bò sát mới, đƣợc phát hiện tăng nhanh trong những năm gần đây.
Hầu hết các loài bò sát mới giai đoạn 2010-2016 đƣợc phát hiện tại sinh cảnh rừng núi đá vôi. Điều này cho thấy, đối với nhóm bò sát, hệ sinh thái núi đá vôi Việt Nam là nơi chứa đựng tính đa dạng sinh học cao và còn nhiều điều bí ẩn, cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu khám phá c 6 1. Lƣợc sử nghiên cứu đa dạng sinh học bò sát tại Ninh Bình và khu danh thắng Tràng An Ninh Bình thuộc khu vực giao thoa giữa đồng bằng Sông Hồng và vùng Tây Bắc, với hai khu bảo tồn nội vi điển hình là Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nƣớc Vân Long và Vƣờn Quốc gia Cúc Phƣơng. Bởi vậy, đây là tỉnh có tính đa dạng sinh học cao, chứa đựng nhiều tiềm năng chƣa đƣợc khám phá.
Tuy nhiên, những nghiên cứu về đa dạng sinh học ở Ninh Bình mới tập trung triển khai ở hai khu bảo tồn nội vi, với rất nhiều các nghiên cứu về đa dạng thành phần loài Bò sát ở ở khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nƣớc Vân Long nhƣ của Hoàng Văn Ngọc và cộng sự đã nghiên cứu về thành phần và đặc điểm phân bố các loài lƣỡng cƣ và bò sát tại khu vực [19]; nhiều khu vực tự nhiên giàu tiềm năng khác trong đó có khu di sản thiên nhiên văn hóa thế giới Tràng An chƣa đƣợc chú ý điều tra, nghiên cứu. Đến nay mới có 01 nghiên cứu về đa dạng thành phần loài Bò sát.đƣợc triển khai tại khu danh thắng Tràng An. Tổng hợp các kết quả điều tra đa dạng thành phần loài Bò sát trên địa bàn tỉnh Ninh Bình từ trƣớc đến nay, cho thấy; tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nƣớc Vân Long đã ghi nhận đƣợc 26 loài [20]; tại Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng đã ghi nhận đƣợc 70 loài [11]; tại khu DSTNVHTG Tràng An đã ghi nhận đƣợc 27 loài bò sát thuộc 12 họ, 2 bộ (Hoàng Thị Tƣơi và Lƣu Quang Vinh, 2017).