Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Hiền, sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Võ Văn Thắng, tiếp cận vấn đề phát triển nông nghiệp dưới lăng kính của triết học mác-xít. Bối cảnh nghiên cứu được xác lập tại thời điểm bước sang thế kỷ XXI – giai đoạn kinh tế toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ và tri thức trở thành nhân tố nổi bật trong sự biến đổi của lực lượng sản xuất. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, mọi sự biến đổi xã hội suy cho cùng đều bắt nguồn từ sự biến đổi của lực lượng sản xuất. Nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, việc thúc đẩy lực lượng sản xuất ngành nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa được xác định là một tất yếu khách quan.

Tại khu vực Tây Nam Bộ, tỉnh An Giang giữ vị trí là vựa lúa lớn nhất cả nước, liên tục dẫn đầu về sản lượng và giá trị lúa gạo. Tuy nhiên, lực lượng sản xuất nông nghiệp của tỉnh trong giai đoạn này còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa khai thác hết tiềm năng và lợi thế sẵn có. Tác giả khảo cứu các công trình nghiên cứu đi trước về nông nghiệp như Để nông dân giàu lên của Giáo sư, Tiến sĩ Võ Tòng Xuân (2005) hay Công nghiệp hóa từ nông nghiệp, lý luận, thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam của Đặng Kim Sơn (2001), cùng nhiều nghị quyết của địa phương. Khóa luận chỉ ra rằng các công trình trước đây tiếp cận nông nghiệp ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng chưa có công trình nào đi sâu phân tích hệ thống những mâu thuẫn cơ bản trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất ngành nông nghiệp tỉnh An Giang từ năm 2001.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận gồm:

  1. Tìm ra những mâu thuẫn cơ bản trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất ngành nông nghiệp tỉnh An Giang giai đoạn từ năm 2001 đến nay.
  2. Đề xuất những biện pháp giải quyết mâu thuẫn, tìm ra hướng đi phù hợp để thúc đẩy ngành nông nghiệp tỉnh An Giang phát triển.

Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành hai nội dung:

  1. Chỉ ra những mâu thuẫn cơ bản trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất ngành nông nghiệp tỉnh An Giang từ năm 2001 đến nay.
  2. Phân tích thực trạng của sự phát triển lực lượng sản xuất ngành nông nghiệp tỉnh An Giang giai đoạn từ năm 2001 đến nay và hướng giải quyết của Đảng bộ tỉnh An Giang trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những mâu thuẫn cơ bản trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất ngành nông nghiệp tỉnh An Giang từ năm 2001 đến nay.
  • Phạm vi nghiên cứu: Lực lượng sản xuất ngành nông nghiệp, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực trồng lúa trên địa bàn tỉnh An Giang từ năm 2001 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (năm 2008).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận thuộc lĩnh vực triết học mác-xít ứng dụng vào phân tích kinh tế - xã hội, xây dựng trên hai trụ cột lý luận chính của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử:

  1. Lý luận về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập: Tác giả phân tích lịch sử tư tưởng mâu thuẫn từ triết học cổ đại phương Đông (học thuyết Âm - Dương, tư tưởng về Đạo của Lão Tử, trường phái Sàmkhya) và phương Tây (Heraclit, Democrit, Platon, Aristote, Kant, Hegel), từ đó khẳng định bước chuyển về chất của C. Mác và Ph. Ăngghen khi đặt mâu thuẫn vào bản thân thế giới vật chất khách quan. Các phạm trù được sử dụng gồm: mặt đối lập, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; phân loại mâu thuẫn (mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài; mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng; mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản). Trong đó, mâu thuẫn cơ bản quy định bản chất và sự phát triển của sự vật qua tất cả các giai đoạn; việc giải quyết mâu thuẫn cơ bản sẽ làm sự vật thay đổi căn bản về chất.
  2. Lý luận về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất: Khái niệm "quan hệ song trùng" của sản xuất xã hội (quan hệ con người với tự nhiên và quan hệ giữa người với người); các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất (người lao động với kỹ năng lao động, tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động - "khí quan của bộ óc con người", "sức mạnh tri thức đã được vật thể hóa"); luận điểm của C. Mác về khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Năm tiêu chí xác định trình độ của lực lượng sản xuất gồm: trình độ công cụ lao động, trình độ tổ chức lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất, kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người, trình độ phân công lao động.
  3. Chủ trương, đường lối của Đảng: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX; Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 27/6/2002 của Tỉnh ủy An Giang về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001–2010.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm: phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lôgíc và phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh và hệ thống hóa, phương pháp thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, cùng phương pháp "phân đôi cái thống nhất" theo chỉ dẫn của V.I. Lênin để nhận diện các mặt đối lập biện chứng.

Nguồn dữ liệu thực chứng được trích dẫn từ Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2005–2010), Thông báo tình hình kinh tế - xã hội năm 2007 của Cục Thống kê An Giang, Niên giám thống kê tỉnh An Giang, tài liệu điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng các bài viết chuyên đề về nông nghiệp An Giang.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Sự cần thiết của việc giải quyết những mâu thuẫn cơ bản trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất ngành nông nghiệp tỉnh An Giang từ năm 2001 đến nay

Chương 1 thiết lập cơ sở phương pháp luận triết học và luận giải tính tất yếu của việc giải quyết mâu thuẫn lực lượng sản xuất nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu:

  • Hệ thống hóa lý luận mác-xít về mâu thuẫn và lực lượng sản xuất: Khẳng định mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực nội tại của sự vận động, phát triển. Đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối, sự thống nhất là tương đối, có điều kiện. Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có đủ điều kiện chín muồi, thông qua đấu tranh của các mặt đối lập chứ không bằng con đường điều hòa mâu thuẫn. Lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất của phương thức sản xuất; khi lực lượng sản xuất phát triển đến giai đoạn nhất định sẽ mâu thuẫn với quan hệ sản xuất hiện có, đòi hỏi phải giải quyết để mở đường cho sản xuất phát triển.
  • Tính tất yếu về mặt lý luận: Nâng cao đời sống nhân dân trước hết phải giải quyết nhu cầu lương thực - lĩnh vực do nông nghiệp đảm nhiệm. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ trung tâm. Đại hội X của Đảng chỉ rõ yêu cầu đẩy mạnh cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất. Mâu thuẫn giữa thực trạng nền nông nghiệp lạc hậu với yêu cầu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 là mâu thuẫn cơ bản xuyên suốt thời kỳ quá độ.
  • Tính tất yếu về mặt thực tiễn tại An Giang: Tỉnh có tổng diện tích đất nông nghiệp là 560.637 ha, trong đó đất trồng lúa chiếm 503.464 ha với năng suất bình quân gần 6 tấn/ha (năm 2005, sản lượng lúa đạt 3,5 nghìn tấn với năng suất bình quân 5,806 tấn/ha). Tuy nhiên, tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh chưa ổn định, thiếu tính bền vững, thu ngân sách chưa đủ chi. Sự phân hóa thu nhập năm 2004 rất rõ nét: nhóm 20% nhân khẩu có thu nhập cao nhất đạt 1.400.000 đồng/người/tháng, trong khi nhóm 20% có thu nhập thấp nhất chỉ đạt 182.300 đồng/người/tháng (trong khi chi tiêu bình quân của nhóm này là 181.000 đồng/người/tháng, mức chi tiêu bình quân toàn tỉnh là 376.000 đồng/người/tháng). Với 71,7% dân số sống tại nông thôn, việc giải quyết mâu thuẫn phát triển lực lượng sản xuất là đòi hỏi cấp bách để tránh đầu tư dàn trải, cục bộ.

Chương 2: Những mâu thuẫn cơ bản trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất ngành nông nghiệp tỉnh An Giang từ năm 2001 đến nay

Chương 2 mô tả điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang, làm rõ 4 mâu thuẫn cơ bản và đề xuất giải pháp:

  • Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3.536,76 km2; gồm 1 thành phố (Long Xuyên), 1 thị xã (Châu Đốc) và 9 huyện; dân số năm 2006 đạt 2.271 nghìn người, mật độ 625 người/km2. Dân số trong độ tuổi lao động là 1.275 nghìn người (chiếm 62,8%); tỷ lệ lao động trong nông nghiệp bình quân giai đoạn 2001–2005 là 63,6%. Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 9,1% (thương mại - dịch vụ tăng 11,5%, công nghiệp - xây dựng tăng 12,2%, nông nghiệp tăng 5,2%). Thu nhập bình quân đầu người năm 2005 đạt 8,53 triệu đồng, tăng 0,83 lần so với năm 2000. Cơ cấu kinh tế năm 2006 ghi nhận: thương mại - dịch vụ 53,5%, công nghiệp - xây dựng 12,6%, nông nghiệp 33,9%.
  • Bốn mâu thuẫn cơ bản trong lực lượng sản xuất nông nghiệp:
    1. Mâu thuẫn giữa thực trạng thấp về trình độ học vấn, hiểu biết với yêu cầu cao về trình độ hiểu biết, ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất của nông dân: Đến hết năm 2006, toàn tỉnh có 10/11 huyện/thị với 142/154 xã, phường hoàn thành phổ cập trung học cơ sở (còn 12 xã, phường chưa đạt). Năm 2000, tỷ lệ nông dân có trình độ học vấn cấp III chỉ đạt 11,4% (mục tiêu năm 2010 là 20%). Nhận thức hạn chế dẫn đến việc lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, vứt bỏ vỏ chai lọ bừa bãi ra đồng ruộng và nguồn nước gây ô nhiễm môi trường. Thu nhập bình quân người dân An Giang chỉ bằng 85% bình quân cả nước; năm 2006 tỉnh còn 58.543 hộ nghèo (chiếm 13,15%). Đảng bộ tỉnh đề ra chủ trương "tri thức hóa nông dân", củng cố trung tâm học tập cộng đồng tại 100% xã.
    2. Mâu thuẫn giữa thực trạng công cụ lao động thô sơ, trình độ tổ chức lao động xã hội thấp với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong kỹ thuật canh tác của nông dân: Nông dân canh tác nhỏ lẻ, thủ công. Quá trình cơ giới hóa bước đầu đem lại kết quả rõ rệt đến năm 2008: toàn tỉnh trang bị hơn 530 máy cắt lúa (hoạt động trên 43.000 ha/vụ), 2.705 máy tuốt lúa có động cơ, 942 lò/máy sấy lúa, 6.970 máy cày kéo lớn nhỏ, 863 máy chế biến lương thực. Hiệu quả kinh tế của máy cắt lúa: tiết kiệm 500.000 đồng/ha chi phí nhân công; giảm tỷ lệ hao hụt từ trên 5% xuống dưới 2% (tiết kiệm 3%, tương đương hơn 200 kg/ha với năng suất 7 tấn/ha, trị giá khoảng 800.000 đồng/ha theo giá lúa 4.000 đồng/kg); hạn chế rạn nứt hạt lúa.
    3. Mâu thuẫn giữa thực trạng kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật nông thôn thấp kém với yêu cầu mở rộng và nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng kết cấu ấy: Đến ngày 31/12/2006, toàn tỉnh có 58,67% hộ dân chưa có nước sinh hoạt hợp vệ sinh, 63,24% nhà vệ sinh chưa đạt chuẩn. Tỷ lệ nhựa hóa đường giao thông nông thôn mới đạt 38% (còn 62% chưa đổ nhựa); 4% đường đến trung tâm xã chưa hoàn thiện. Mùa khô kênh rạch bị khô cạn gây cản trở giao thông thủy. Mạng máy tính nối internet ở nông thôn chỉ đạt 0,2 máy/100 hộ (bình quân toàn tỉnh là 0,7 máy/100 hộ). Nghị quyết 03-NQ/TU đặt mục tiêu xây dựng kho chứa đạt 600–700 ngàn tấn vào năm 2005 và 800–900 ngàn tấn vào năm 2010 (kho có xy-lô đạt 10%). Kết quả giai đoạn 2001–2006: tỉnh làm mới hơn 430 km giao thông nông thôn, xây dựng 1.910 km mặt đường, nhựa hóa mới 1.067 km, bảo đảm xe lưu thông đến 96% trung tâm xã.
    4. Mâu thuẫn giữa yêu cầu mở rộng thị trường hàng nông sản với hiện thực chất lượng hàng nông sản còn nhiều bất cập: Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu xuất khẩu ở dạng thô (theo số liệu dẫn từ bài viết của Phương Nguyên, 90% sản phẩm nông nghiệp cả nước bán thô, 60% bị bán ép giá thấp; chỉ 25% nông dân tiếp cận thông tin thị trường; 77% số hộ thuần nông). Nông sản An Giang còn đơn điệu, chất lượng chưa đáp ứng các quy chuẩn an toàn quốc tế trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Nông dân chưa nắm bắt kịp thời nhu cầu thị trường, chủ yếu sản xuất theo tập quán cũ.
  • Bốn nhóm giải pháp do tác giả đề xuất:
    1. Nâng cao trình độ nhận thức, hiểu biết khoa học kỹ thuật cho nông dân thông qua phổ cập giáo dục bắt buộc, miễn giảm học phí cho học sinh nghèo, mở rộng chính sách ưu đãi cho sinh viên ngành kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn; bảo đảm mỗi xã có ít nhất 1–2 kỹ sư nông nghiệp chuyên môn cao; tổ chức tập huấn, thi nông dân sản xuất giỏi, tăng thời lượng chuyên mục khuyến nông trên truyền thông.
    2. Nâng cao kỹ năng canh tác khoa học, xóa bỏ thói quen lạc hậu, đẩy mạnh ứng dụng máy móc (máy cày, bừa, gieo hạt, cấy, sạ hàng, phun thuốc, máy bơm, máy gặt, máy sấy...) và xây dựng các vùng chuyên canh chất lượng cao.
    3. Đầu tư nâng cấp, kiên cố hóa hạ tầng giao thông thủy bộ, cầu cống, hệ thống thủy lợi nội đồng, kho bãi và chợ nông thôn nhằm lưu thông hàng hóa và thu hút vốn đầu tư.
    4. Nâng cao đời sống tinh thần và sức khỏe nhân dân: đầu tư trạm y tế, cung cấp nước sạch sinh hoạt, xây dựng thư viện huyện có phòng đọc điện tử, phát triển phong trào thể dục thể thao và thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận tổng hợp các chỉ số định lượng về kinh tế, hạ tầng và kỹ thuật canh tác tại tỉnh An Giang trong giai đoạn 2001–2008:

Tiêu chí Số liệu thực trạng ghi nhận Mục tiêu / Kết quả đạt được
Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm Nông nghiệp: 5,2%; Công nghiệp: 12,2%; Thương mại - dịch vụ: 11,5% Toàn tỉnh đạt 9,1% (vượt kế hoạch 0,6%)
Cơ cấu kinh tế (năm 2006) Nông nghiệp: 33,9% Thương mại - dịch vụ: 53,5%; Công nghiệp - xây dựng: 12,6%
Thu nhập bình quân đầu người (năm 2005) Đạt 8,53 triệu đồng/năm Tăng 0,83 lần so với năm 2000
Phân hóa thu nhập (năm 2004) Nhóm cao nhất: 1.400.000 đ/người/tháng; Nhóm thấp nhất: 182.300 đ/người/tháng Chi tiêu đời sống bình quân nhóm thấp nhất: 181.000 đ/người/tháng
Trình độ học vấn nông dân Năm 2000: 11,4% đạt học vấn cấp III Mục tiêu đến năm 2010: đạt 20% học vấn cấp III
Tỷ lệ hộ nghèo (năm 2006) 58.543 hộ nghèo (chiếm 13,15% tổng số hộ) Áp dụng theo chuẩn nghèo mới
Hiện trạng nước sinh hoạt và vệ sinh (2006) 58,67% hộ chưa có nước sạch hợp vệ sinh; 63,24% nhà vệ sinh chưa hợp chuẩn Nghị quyết yêu cầu kiên cố hóa, giải tỏa nhà tạm bợ ven kênh
Giao thông nông thôn (đến 2006) 38% đường được nhựa hóa; 62% đường chưa nhựa hóa; 4% đường xã chưa hoàn thiện Làm mới 430 km, xây 1.910 km mặt đường, nhựa hóa 1.067 km, ô tô đến 96% xã
Trang bị internet (năm 2007) Nông thôn: 0,2 máy/100 hộ; Toàn tỉnh: 0,7 máy/100 hộ 154/154 xã, phường có trạm truyền thanh
Trang bị máy nông nghiệp (đến năm 2008) 530 máy cắt lúa (trên 43.000 ha); 2.705 máy tuốt lúa; 942 lò sấy; 6.970 máy cày; 863 máy chế biến Giảm tỷ lệ hao hụt lúa từ >5% xuống <2%; tiết kiệm nhân công 500.000 đ/ha

Đóng góp của khóa luận được xác lập trên hai phương diện:

  • Về mặt lý luận: Khóa luận vận dụng các nguyên lý triết học mác-xít về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập vào việc giải thích sự phát triển của lực lượng sản xuất nông nghiệp tại một địa phương cụ thể. Tác giả làm rõ nội hàm của 4 mâu thuẫn cơ bản, cung cấp cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý và Đảng bộ tỉnh An Giang tham khảo trong quá trình hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp.
  • Về mặt thực tiễn: Khóa luận ghi nhận những điển hình sáng tạo từ thực tiễn sản xuất của nông dân địa phương, tiêu biểu là trường hợp nông dân Hoa Sĩ Hiền (ngụ tại ấp Phú Tân B, xã Tân An, huyện Tân Châu) đã tự nghiên cứu và lai tạo thành công 4 giống lúa mới gồm SHHN3 B1, SHHN3 B2, SHEN2 A1 và SHEN4. Các đề xuất giải pháp gắn liền với tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh, hỗ trợ quá trình giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy nông nghiệp An Giang hội nhập kinh tế quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập WTO.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Khóa luận được hoàn thành trong khuôn khổ đào tạo đại học sư phạm, do đó tồn tại một số giới hạn nghiên cứu được tác giả thừa nhận:

  • Phạm vi khảo sát mới chỉ tập trung chủ yếu vào lực lượng sản xuất ngành nông nghiệp trồng lúa nước tại An Giang, chưa bao quát toàn diện các ngành nghề nông nghiệp khác như chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản nước ngọt (dù con cá nước ngọt cũng được xác định là mặt hàng chủ lực của tỉnh).
  • Đề tài chỉ tập trung nhận diện và luận giải 4 mâu thuẫn cơ bản, chưa có điều kiện phân tích sâu các mâu thuẫn không cơ bản hoặc những mâu thuẫn thứ sinh mới nảy sinh trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
  • Các giải pháp đề xuất mới dừng lại ở mức độ kiến nghị ban đầu mang tính định hướng phương pháp luận, cần tiếp tục được kiểm chứng, hoàn thiện trong những công trình nghiên cứu sâu hơn ở các giai đoạn tiếp theo.

Giá trị tham khảo của đề tài

Công trình có giá trị học liệu và thực tiễn cho nhiều nhóm độc giả:

  • Sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị và Triết học: Khóa luận là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp vận dụng lý luận triết học mác-xít (quy luật mâu thuẫn, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất) vào việc mổ xẻ một vấn đề kinh tế - xã hội địa phương cụ thể, tránh lối viết lý thuyết thuần túy.
  • Người nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp và Đồng bằng sông Cửu Long: Cung cấp nguồn số liệu lịch sử chi tiết về quá trình cơ giới hóa nông nghiệp, hạ tầng nông thôn, mức độ phân hóa thu nhập và thực trạng sản xuất lúa gạo của An Giang giai đoạn 2001–2008.
  • Cán bộ quản lý kinh tế và hoạch định chính sách địa phương: Phần phân tích các mâu thuẫn hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực và liên kết thị trường hàng nông sản cung cấp các luận cứ thực tế cho công tác xây dựng đề án nông nghiệp, nông thôn tại các tỉnh thuần nông.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả xác định những mâu thuẫn cơ bản nào trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang?
Tác giả xác định 4 mâu thuẫn cơ bản: (1) Mâu thuẫn giữa thực trạng trình độ học vấn, hiểu biết thấp với yêu cầu cao về hiểu biết, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật của nông dân; (2) Mâu thuẫn giữa công cụ lao động thô sơ, tổ chức lao động thấp kém với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa kỹ thuật canh tác; (3) Mâu thuẫn giữa hạ tầng kinh tế - kỹ thuật nông thôn thấp kém với yêu cầu mở rộng, nâng cao hiệu quả sử dụng; (4) Mâu thuẫn giữa yêu cầu mở rộng thị trường với hiện thực chất lượng hàng nông sản còn nhiều bất cập.

2. Việc áp dụng máy cắt lúa mang lại hiệu quả kinh tế cụ thể như thế nào đối với nông dân An Giang?
Theo số liệu trong khóa luận, cắt lúa bằng máy giúp nông dân tiết kiệm 500.000 đồng/ha chi phí nhân công (cắt, gom, ôm, suốt). Do cắt khi lúa còn tươi nên giảm tỷ lệ hao hụt rơi vãi từ trên 5% (cắt tay) xuống dưới 2% (cắt máy), tiết kiệm được 3% sản lượng. Với năng suất 7 tấn/ha, mức giảm thất thoát tương đương hơn 200 kg lúa/ha, quy đổi theo giá lúa 4.000 đồng/kg giúp tiết kiệm thêm khoảng 800.000 đồng/ha; đồng thời chất lượng hạt lúa ít bị rạn nứt hơn so với phơi mớ trên đồng.

3. Khóa luận ghi nhận thực trạng hạ tầng giao thông và viễn thông nông thôn An Giang qua các con số nào?
Đến cuối năm 2006, tỷ lệ nhựa hóa đường giao thông nông thôn của tỉnh mới đạt 38% (còn 62% chưa đổ nhựa), còn 4% đường đến trung tâm xã chưa hoàn thiện. Về viễn thông, tính đến hết năm 2007, tỷ lệ máy tính kết nối internet bình quân toàn tỉnh chỉ có 0,7 chiếc/100 hộ, riêng khu vực nông thôn chỉ đạt 0,2 chiếc/100 hộ; 2 huyện miền núi Tri Tôn và Tịnh Biên còn điểm lõm sóng truyền hình.

4. Cá nhân nông dân nào tại An Giang được tác giả nêu gương về sáng tạo trong chọn tạo giống lúa?
Khóa luận biểu dương nông dân Hoa Sĩ Hiền, cư trú tại ấp Phú Tân B, xã Tân An, huyện Tân Châu, đã tự nghiên cứu và lai tạo thành công 4 giống lúa mới gồm: SHHN3 B1, SHHN3 B2, SHEN2 A1 và SHEN4.

5. Cơ sở dữ liệu nào cho thấy sự chênh lệch thu nhập tại An Giang trong giai đoạn khảo sát?
Theo số liệu năm 2004 được trích dẫn trong khóa luận, nhóm 20% nhân khẩu có thu nhập cao nhất toàn tỉnh đạt 1.400.000 đồng/người/tháng, trong khi nhóm 20% có thu nhập thấp nhất chỉ đạt 182.300 đồng/người/tháng (vừa đủ bù đắp mức chi tiêu đời sống bình quân 181.000 đồng/người/tháng). Năm 2006, toàn tỉnh còn 58.543 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 13,15% tổng số hộ dân.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phạm Thị Hiền đã vận dụng nhất quán phương pháp luận triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích quá trình vận động của lực lượng sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang từ năm 2001 đến năm 2008. Công trình nhận diện rõ bốn mâu thuẫn cơ bản giữa hiện trạng lạc hậu về nhân lực, công cụ canh tác, kết cấu hạ tầng và chất lượng hàng nông sản với đòi hỏi phát triển tất yếu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn trong bối cảnh hội nhập WTO. Các giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất phản ánh bám sát thực trạng địa phương, khẳng định vai trò quyết định của việc nâng cao dân trí nông dân, cơ giới hóa đồng bộ và hoàn thiện hạ tầng kinh tế - kỹ thuật đối với sự phát triển bền vững của nền nông nghiệp An Giang.