CHƯƠNG 1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT NHỮNG MÂU THUẪN CƠ BẢN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT NGÀNH NÔNG NGHIỆP TỈNH AN GIANG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY 1. Lý luận về mâu thuẫn theo quan điểm triết học mác-xít 1. Khái niệm và phân loại mâu thuẫn 1. Khái niệm mâu thuẫn Ngay từ thời cổ đại, cả ở phương Đông lẫn phương Tây đều có những phỏng đoán thiên tài về sự tác động qua lại của các mặt đối lập và xem sự tác động qua lại đó là cơ sở vận động, phát triển của thế giới.
Tiêu biểu ở phương Đông có học thuyết Âm – Dương (Trung Quốc), quan điểm về “Đạo” của Lão Tử, tư tưởng về mâu thuẫn của trường phái Sàmkhya (Ấn Độ)…, Ở phương Tây có các triết gia tiêu biểu bàn về vấn đề này như: Heraclit, Aristote, Platon, Democrit, I.Kant, Hegels,… Mặc dù vậy, nhìn chung, hầu hết các nhà triết học trước C.Mác đều chưa có tư tưởng về sự vận động đi lên và chưa nâng chúng thành quy luật của sự phát triển, ngoại trừ Hegels_người đã phát triển quan điểm mâu thuẫn đến trình độ cao hơn so với trước đó, ông khẳng định: “Mâu thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi sự vận động và của tất cả mọi sức sống” [Dẫn theo 10; 319]. Song, do bị chi phối bởi quan niệm duy tâm và bởi lợi ích giai cấp mà ông đại diện, Hegels đã không thể phát triển học thuyết mâu thuẫn biện chứng đến độ triệt để. Ông cho rằng, mâu thuẫn chỉ xảy ra trong ý niệm tuyệt đối mà thôi, chứ ông chưa thấy rằng đấu tranh giữa các mặt đối lập ngay trong bản thân sự vật, hiện tượng chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển. Điều đó càng thấy rõ khi ông nghiên cứu các vấn đề xã hội.
Bằng tư duy biện chứng của mình, ông đã chỉ ra tính mâu thuẫn không thể điều hòa được trong “xã hội công dân”, nhưng khi giải quyết mâu thuẫn của nó, ông lại đẩy việc giải quyết đó vào lĩnh vực tư tưởng thuần túy. Kế thừa một cách có phê phán tất cả những thành tựu có giá trị nhất trong toàn bộ lịch sử hơn 2.000 năm của triết học, dựa trên những thành quả mới nhất NHD: Ts. Võ Văn Thắng 7 Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP Phạm Thị Hiền của khoa học hiện đại (cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội và nhân văn), khái quát thực tiễn thời đại mình, C.Ăngghen đã phát triển học thuyết mâu thuẫn biện chứng lên một tầm cao mới khác về chất so với các quan điểm về mâu thuẫn trước đó. Các ông đã tìm ra mâu thuẫn ngay trong nội tại sự vật, hiện tượng và chứng minh được rằng khi mâu thuẫn phát triển đến mức gay gắt không thể điều hòa, chúng sẽ đấu tranh, bài trừ và phủ định lẫn nhau.
Mâu thuẫn được giải quyết, chỉnh thể cũ mất đi, chỉnh thể mới ra đời, thay thế. Các ông khẳng định: “Chúng ta phải tìm xung lực vận động và phát triển của sự vật trong chính sự vật đó, trong những mâu thuẫn của bản thân sự vật” [10; 320]. Quan điểm lý luận đó được thể hiện trong quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Nội dung cơ bản của quy luật này được làm sáng tỏ thông qua một loạt những phạm trù cơ bản: mặt đối lập, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.
Mặt đối lập là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, tồn tại một cách khách quan cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Hai mặt đối lập tuy có thuộc tính bài trừ, phủ định nhau, nhưng chúng lại gắn bó chặt chẽ với nhau, đồng thời tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất. Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, đòi hỏi có nhau của các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề. Như vậy, cũng có thể xem xét sự thống nhất của hai mặt đối lập là tính không thể tách rời của hai mặt đó.
Giữa các mặt đối lập bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau, đồng nhất với nhau. Với ý nghĩa đó, sự thống nhất của các mặt đối lập còn bao hàm sự đồng nhất của các mặt đó. Do có sự đồng nhất của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu thuẫn đến một lúc nào đó, mặt đối lập này có thể chuyển hóa sang mặt đối lập kia – khi xét về một vài đặc trưng nào đó. Thí dụ, sự phát triển kinh tế trong chủ nghĩa tư bản phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản, nhưng lại tạo ra tiền đề cho sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng CNXH.
Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang nhau của chúng. Song, đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn ở một giai đoạn phát triển, khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối lập. Tồn tại trong một thể thống nhất, hai mặt đối lập luôn tác động qua lại với nhau, đấu tranh với nhau. Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó.
Võ Văn Thắng 8 Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP Phạm Thị Hiền Như vậy, không thể hiểu đấu tranh của các mặt đối lập chỉ là sự thủ tiêu lẫn nhau của các mặt đó. Sự thủ tiêu lẫn nhau của các mặt đối lập chỉ là một trong những hình thức đấu tranh của các mặt đối lập. Tính đa dạng của hình thức đấu tranh giữa các mặt đối lập tùy thuộc vào tính chất của các mặt đối lập cũng như của mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng, phụ thuộc vào lĩnh vực tồn tại của các mặt đối lập, phụ thuộc vào điều kiện trong đó diễn ra cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập. Với tư cách là hai trạng thái đối lập trong mối quan hệ qua lại giữa hai mặt đối lập, sự thống nhất và đấu tranh của chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Sự thống nhất giữa các mặt đối lập có quan hệ hữu cơ với sự đứng im, sự ổn định tạm thời của sự vật. Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập có mối quan hệ gắn bó với tính tuyệt đối của sự vận động và sự phát triển. Điều đó có nghĩa là, sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối. Khi xem xét mối quan hệ như vậy, V.Lênin viết: “Sự thống nhất … của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối.
Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối” [Dẫn theo 10; 324]. Tóm lại, triết học Mác – Lênin quan niệm, mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan và phổ biến. Mâu thuẫn là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Phân loại mâu thuẫn Mâu thuẫn trong tự nhiên, trong xã hội, trong tư duy hết sức phong phú, đa dạng.
Tính đa dạng của các mâu thuẫn được quy định một cách khách quan bởi đặc điểm của các mặt đối lập, bởi điều kiện mà trong đó sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập được triển khai, bởi trình độ tổ chức của hệ thống (sự vật) mà trong đó mâu thuẫn tồn tại. Ở góc độ triết học: Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập đối với một sự vật, người ta phân loại các mâu thuẫn thành những mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài. Căn cứ vào tính chất các lợi ích đối lập tạo thành mâu thuẫn xã hội, người ta chia các mâu thuẫn trong xã hội thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng. Võ Văn Thắng 9 Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP Phạm Thị Hiền Dựa trên ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, các mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.
Trong đó, mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật. Mâu thuẫn cơ bản được giải quyết thì sự vật sẽ thay đổi căn bản về chất. Sự phân chia này chỉ mang tính tương đối. Do vậy, khi phân tích mâu thuẫn, chúng ta cần phải xem xét toàn diện các mặt đối lập, theo dõi quá trình phát sinh, phát triển của các mặt đó; nghiên cứu sự đấu tranh của chúng qua từng giai đoạn; tìm hiểu những điều kiện làm cho những mặt đó biến đổi; đánh giá đúng tính chất và vai trò của từng mặt và của cả mâu thuẫn trong từng giai đoạn; xem những mặt đối lập đó có những yếu tố gì chung, giống với những mâu thuẫn khác và có những đặc điểm gì riêng, khác với những mâu thuẫn khác.
Vai trò của mâu thuẫn đối với sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng Những người theo chủ nghĩa duy tâm, siêu hình tìm nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển không phải ở những mâu thuẫn nội tại của sự vật, mà ở những lực lượng siêu tự nhiên hay ở lý trí, ở ý muốn của con người, của cá nhân kiệt xuất. Thí dụ, Aristote cho rằng, thế giới này là do Thượng đế sinh ra.Newton cho rằng, sở dĩ có sự vận động và phát triển của thế giới là do có “cú hích đầu tiên” tức là do sự tác động từ bên ngoài thế giới vật chất,… Dựa trên những thành tựu khoa học và thực tiễn, chủ nghĩa duy vật biện chứng tìm thấy nguồn gốc của vận động và phát triển ở mâu thuẫn, ở sự đấu tranh giữa các khuynh hướng, các mặt đối lập tồn tại trong các sự vật và hiện tượng. Bằng những lập luận khoa học, các ông đã chứng minh được rằng, “mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển”, “là xung lực của sự sống” [Dẫn theo 10; 326].Lênin viết: Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập [10; 325]. Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan và phổ biến, nó tồn tại trong tất cả các sự vật và hiện tượng, ở mọi giai đoạn tồn tại và phát triển của sự vật và hiện tượng.
Nhưng ở các sự vật khác nhau, ở các giai đoạn phát triển khác nhau của một sự vật, ở mỗi lĩnh vực, mỗi yếu tố cấu thành một sự vật sẽ có những mâu thuẫn khác nhau.