mở đầu cho các mạng không dây ra đời và phát triển rất nhanh. Năm 1986, mạng NSFnet chính thức được thiết lập, kết nối năm trung tâm máy tính. Năm 1990, với tư cách là 1 dự án ARPANET dừng hoạt động nhưng mạng do NSF và ARPANET tạo ra đã đến lúc này đối tượng sử dụng Internet chủ yếu là những nhà nghiên cứu và dịch vụ phổ biến nhất là E-mail va FTP.Internet là 1 phương tiện đại chúng. 9 Mạng máy tính và truyền thông Năm 1991, Tim Berners Lee ở trung tâm nghiên cứu nguyên tử châu Âu CERN phát minh ra World Wide Web (WWW) dựa theo ý tưởng về siêu văn bản được Ted Nelson đưa ra từ năm 1985.
Có thể nói đây là 1 cuộc cách mạng trên Internet vì người ta có thể truy cập, trao đổi thông tin một cách dễ dàng, nhanh chóng. Năm 1994 là năm kỉ niệm lần thứ 25 ra đời ARPANET, NIST đề nghị thống nhất dùng giao thức TCP/IP.WWW trở thành dịch vụ phổ biến thứ hai sau dịch vụ FTP. Tháng 10 năm 1994 Tập đoàn truyền thông Netscape cho ra đời phiên bản beta của trình duyệt Navigator 1.0 nhưng còn cồng kềnh và chạy rất chậm. Hai công ty trở thành đối thủ của nhau, cạnh tranh thị trường trình duyệt.
Năm 1996, triển lãm Internet World Exposition là triển lãm thế giới đầu tiên trên mạng Internet. Năm 1997, một tiểu ban đã tiến hành thương lượng hợp nhất các chuẩn và đã ban hành chuẩn chính thức IEE 802.Sau đó là chuẩn 802.11a lần lượt được phê duyệt vào các năm 1999 và năm 2000. Tháng 8 năm 1999 sáu công ty gồm Intersil, 3Com, Nokia, Aironet, Symbol, Lucent liên kết tạo thành liên minh tương thích Ethernet không dây VECA. Thuật ngữ Wi-Fi ra đời, là tên gọi thống nhất để chỉ công nghệ kết nối cục bộ không dây đã được chuẩn hóa.
Ngày nay Internet kết nối vạn vật, điều này giúp con người rất nhiều trong tất cả đời sống nhưng cũng tiềm tàng nhiều nguy cơ, câu hỏi đặt ra là chúng ta phát triển internet theo hướng nào tiếp theo để làm cho cuộc sống con người thuận tiện hơn, an toàn hơn.2 Các giao thức kết nối mạng Internet.Giao thức Internet work Packet Exchange/Sequenced Packet Exchange( IP/SPX) 10 Mạng máy tính và truyền thông IPX và SPX là các giao thức mạng ban đầu được sử dụng trên các mạng sử dụng hệ điều hành Novell NetWare (đã ngừng hoạt động). Chúng cũng được sử dụng rộng rãi trên các mạng triển khai mạng LAN Microsoft Windows, vì chúng thay thế mạng LAN NetWare, nhưng hiện không còn được sử dụng rộng rãi nữa.IPX/SPX cũng được sử dụng rộng rãi trước và cho đến Windows XP , hệ điều hành hỗ trợ các giao thức này, trong khi các phiên bản Windows sau này thì không, và TCP/IP đã tiếp quản mạng.IPX và SPX đều cung cấp các dịch vụ kết nối tương tự như TCP/IP , trong đó giao thức IPX có điểm tương đồng với Giao thức Internet , còn SPX có điểm tương đồng với TCP. IPX/SPX chủ yếu được thiết kế cho các mạng cục bộ (LAN) và là một giao thức rất hiệu quả cho mục đích này.Giao thức Internet Protocol Suite (TCP /IP) a). Khái niệm Giao thức Internet Protocol Suite (hay còn gọi là TCP/IP – Transmission Control Protocol/ Internet Protocol) là một bộ giao thức mạng chính thức và cơ bản được sử dụng rộng rãi trên Internet và trong hầu hết các mạng máy tính ngày nay.
Nó định nghĩa một cách tiếp cận tiêu chuẩn để thiết lập và quản lí kết nối giữa các thiết bị trong mạng, đồng thời đảm bảo việc truyền tải dữ liệu. Ban đầu, TCP/IP được thiết kế dành riêng cho Unix. Đến nay, chúng đã tích hợp được trong tất cả các hệ điều hành sau đó. Mô hình TCP/IP và các giao thức liên quan đến nó hiện tại đang được duy trì bởi lực lượng đặc nhiệm kỹ thuật Internet.Giao thức TCP/IP được áp dụng cho các mạng Internet hoặc trong các mạng nội bộ.
Có thể nói, đây như là một lớp trừu tượng nằm giữa các hệ thống hạ tầng router và các ứng dụng Internet, giúp xác định cách thức mà tập tin được truyền qua Internet. Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình TCP/IP Mô hình TCP/IP bắt nguồn từ Internet Protocol Suite mà DARPA đã làm việc vào đầu những năm 1970. Năm 1975, kết nối giữa hai mô hình TCP và IP đã được thử nghiệm và đạt 11 Mạng máy tính và truyền thông được thành công ngoài mong đợi. Thành công nối tiếp, cũng như nhiều cuộc thử nghiệm khác với kết quả ngoài mong đợi.
Sau nhiều năm thực hiện nghiên cứu và phát triển bởi hai kỹ sư Robert E. Kahn và Vinton Cerf, với sự hỗ trợ của nhiều nhóm nghiên cứu. Đầu năm 1978, nhóm nghiên cứu đã phát hành một giao thức TCP/IP ổn định, giao thức chuẩn hiện đang được Internet sử dụng, mô hình TCP/IP Phiên bản 4. Năm 1982, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ phê duyệt giao thức TCP/IP được coi là tiêu chuẩn cho toàn bộ mạng thông tin của đất nước.
Nguyên lý hoạt động. Bộ giao thức này bao gồm hai phần chính: Transmission Control Protocol (TCP): Được sử dụng để quản lý việc truyền tải dữ liệu từ một thiết bị tới thiết bị khác trên mạng một cách đáng tin cậy. TCP chịu trách nhiệm phân đoạn dữ liệu, đảm bảo nó được chuyển giao một cách đúng đắn và đầy đủ. Nó cũng quản lý các kết nối giữa các thiết bị.
Internet Protocol (IP): Là phần của TCP/IP quản lý việc định tuyến dữ liệu qua mạng. IP chịu trách nhiệm xác định địa chỉ của các thiết bị trong mạng (địa chỉ IP) và định tuyến dữ liệu từ nguồn đến đích thông qua một loạt các thiết bị mạng.TCP/IP đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hoạt động của Internet và cho phép các thiết bị khác nhau, chạy các hệ điều hành khác nhau có thể truyền thông với nhau.Chức năng của các tầng trong mô hình TCP/IP Một mô hình TCP/IP tiêu chuẩn thường sẽ bao gồm 4 tầng với 4 chức năng khác nhau xếp thành hình tháp chồng lên nhau. Tầng thấp nhất sẽ bắt đầu từ Tầng vật lý (Physical), sau đó đến Tầng mạng (Network), Tầng giao vận (Transport) và cuối cùng là Tầng ứng dụng (Application). Tầng 1 - Tầng Vật lý (Physical) 12 Mạng máy tính và truyền thông Tầng Physical là sự kết hợp giữa các phương thức vật lý và các dữ liệu trong mô hình OSI.
Tầng vật lý này đảm nhiệm việc truyền tải các dữ liệu giữa những thiết bị khác nhau trong cùng 1 hệ thống mạng Internet. Khác so với những tầng tiếp theo, ở tầng Physical, các dữ liệu sẽ được đóng gói vào một khung (còn gọi là Frame) trước khi được định tuyến và gửi tới địa chỉ đích đã được chỉ định sẵn. Tầng 2 - Tầng mạng (Internet) Đây là tầng có chức năng truyền tải những dữ liệu theo cách hợp lý và logic. Những phân đoạn dữ liệu sẽ được tầng này đóng gói với kích thước phù hợp, sau khi đóng gói, các phân đoạn dữ liệu được chèn thêm một header có chứa thông tin ở tầng mạng rồi mới chuyển đến tầng tiếp theo.
Các giao thức chính được thiết kế trong tầng mạng sẽ bao gồm: Internet Protocol(IP), Internet Control Message Protocol(ICMP), Internet Group Message Protocol(IGMP). Tầng 3 - Tầng Giao vận (Transport) Chức năng của tầng giao vận trong mô hình TCP/IP là xử lý những vấn đề diễn ra trong giao tiếp giữa các máy chủ trong cùng một mạng hoặc khác hệ thống mạng nhưng được kết nối cùng một bộ định tuyến. Tầng 4 - Tầng Ứng dụng (Application) Là tầng trên cùng của mô hình TCP/IP. Đúng với tên gọi tầng ứng dụng, chức năng của tầng 4 là giao tiếp, truyền các dữ liệu giữa hai máy khác nhau thông qua những dịch vụ mạng khác nhau (ví dụ như: duyệt web, gửi email, chat, giao thức trao đổi dữ liệu SMTP, SSH, FTP,.
Khi dữ liệu được chuyển đến tầng này, nó sẽ được định dạng theo kiểu Byte nối Byte, cùng với đó là những thông tin định tuyến giúp xác định đường đi đúng của một gói tin. Tầng 4 thường bao gồm các giao thức trao đổi dữ liệu hỗ trợ truyền tập tin như: HTTP, POP3 (Post Office Protocol 3), FTP, SMTP (Simple Mail Transfer Protocol), SNMP (Simple Network Management Prot 13 Mạng máy tính và truyền thông e). Các loại giao thức TCP/IP phổ biến Hiện nay, TCP/IP được chia thành 3 loại giao thức phổ biến là: HTTP, HTTPs, FTP. HTTP (Hyber Text Transfer Protocol) Giao thức truyền tải siêu văn bản (HTTP) đây là giao thức được sử dụng giữa 1 web client và 1 web Internet để truyền thông tin dữ liệu không an toàn.
Một trình duyệt Internet trên máy tính để gửi yêu cầu cho 1 web server để xem 1 trang web. Máy chủ web khi nhận được yêu cầu đó và gửi thông tin trang web HTTPs (Hypertext Transfer Protocol Security) Là một loại giao thức được dùng với 1 web client và 1 web server để truyền tải thông tin dữ liệu một cách an toàn. Giao thức này được dùng để truyền dữ liệu giao dịch thẻ tín dụng hoặc các dữ liệu cá nhân khác từ 1 web client (ví dụ như trình duyệt internet trên máy tính) đến 1 web server khác. FTP (File Transfer Protocol) Giao thức truyền tập tin FTP là một loại giao thức dùng giữa 2 hoặc nhiều máy tính với nhau.
Khi một máy tính gửi dữ liệu đến hoặc nhận thông tin dữ liệu từ máy tính khác một cách trực tiếp. Ưu điểm TCP/IP thường không thuộc quyền sở hữu trí tuệ hay nằm dưới sự kiểm soát của bất cứ bên nào, do vậy bộ giao thức mạng này có thể dễ dàng sửa đổi. Và có thể tương thích với hầu hết tất cả các hệ điều hành, vì vậy có thể giao tiếp với nhiều máy chủ trong hệ thống khác hoặc tương thích với nhiều loại phần cứng máy tính và hệ thống mạng. Ngoài ra, TCP/IP cũng sở hữu một số ưu điểm khác như: -TCP/IP hoạt động độc lập với các hệ điều hành, vì vậy nếu Win của máy bị lỗi sẽ không ảnh hưởng đến giao thức mạng này.
14 Mạng máy tính và truyền thông -Có khả năng giúp hệ thống mở rộng việc kết nối giữa máy client và máy server. -Không gây ảnh hưởng tới hệ thống internet hay gây áp lực trên máy tính nhờ giao thức này có dung lượng nhẹ.Nhược điểm Giao thức mạng TCP/IP không phải là một mô hình hoàn hảo và vẫn có nhiều khiếm khuyết, tuy nhiên vẫn có thể khắc phục khi sử dụng: -Việc cài đặt giao thức này đòi hỏi chuyên môn bởi khá phức tạp đối với vời dùng mới. TCP/IP khó để quản lý vì vậy cần tiếp cận dần trước khi sử dụng thực tế. -Tầng Giao Vận (Transport) không đảm bảo có thể phân phối các gói tin một cách thường xuyên.