lời mở đầu của Bộ luật về Luật Hammurabi. Nội dung bân thân các luật lệ chủ yêù nhằm bảo vệ lợi ích của tầng lớp giàu có và thịnh vượng bằng cách đàn áp và khai thác các cư dân nghèo - những người bị tước đoạt quyền. Theo Từ điên bách khoa Nga, Tuyên truyền - Propaganda (tiêhg Latin), có nghĩa là "phân phôi, truyền bá (đức tin)", từ tiêhg Latin propago - "phân phối, truyền bá" - trong diễn ngôn chính trị hiện đại được hiểu là sự truyền bá quan điếm, ý kiến, lập luận, bao gồm cả cô' tình làm méo mó quan điếm hướng đêh sự hình thành ý kiên công chúng hoặc các mục tiêu khác theo đuổi bời các nhà tuyên truyền. Theo đó, lý thuyết tuyên truyền đầu tiên dựa trên ý tưởng về chủ nghĩa hành vi và chủ nghĩa Freud.
Theo các học giả và chính trị gia phưong Tây, tuyên truyền là quá trình tha hóa con người nhằm mục đích chính trị; tức là thực tê'là sự kiện hay van đề không có thật nhưng nói đi nói lại nhiều lần để người ta tin là có thật. Như vậy, tuyên truyền là nghệ thuật nói dôì(1).< / ' r ’ •' •• f” Theo dõi chiến dịch truyền thông của phương Tây trước chiến dịch tâh công Iraq của Mỹ ngày 20/3/2003; xem lại "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ" năm 1965 do Chính phủ Mỹ dựng lên đê hiểu thêm. '• 17 TRUYÍN THÒNG - lý, ưỉugét uà, kỹ, năng, cứ bản, Trong khi đó, theo V. Lê-nin(1), tuyên truyền là đem chân lý đến cho người nghe; là đem nhiều ý đến cho một sô'ít người.
Nhiều ý, đó là lý luận cách mạng, về bản chat cuộc đâù tranh giai cap, về cuộc đâ'u tranh giành và giừ chính quyền, về xây dựng Đảng Cộng sàn Bôn-sê-vích và chính quyền công - nông - binh,.; một sô'ít người, đó là cán bộ côt cán của đảng - nhũng người có trình độ và điều kiện tiếp thu lý luận cách mạng, và chính họ sẽ dùng lý luận và phưong pháp này để vận động, tổ chức quần chúng nhân dân đủng lên làm cách mạng,. Lê-nin, cố động, là nói ít ý cho nhiều người. ít ý, đó là từ một sự kiện^ hay hành động thực tê', có tính tiêu biểu và mẫu mực, nâu ra làm gương, và phát động thành phong trào hành động cách mạng, kêu gọi quần chúng nhân dân cùng thông nhâ't hành động, cùng tiến hành nhằm giải quye't những vân đề cụ thể đang đặt ra. Từ đây, chính V.
Lê-nin^ đã hơn một lần khẳng định rằng, sự thật đẹp đẽ nhất là sự thật nói đúng sự thật; rằng sự kiện và (1) Vladimir Ilyich Lenin (tiêhg Nga: BAaAHMHp PÍAbMq ZeHMH, phiên âm tiêng Việt: Vla-đi-mia I-lích Lênin), tên khai sinh là Vladimir Ilyich Ulyanov (tiêng Nga: BAaAMMMp Kabmh yAbSHOB), còn được gọi với tên V.; sinh ngày 22/4/1870, mat ngày 21/ 01/1924; là lãnh tụ vĩ đại của phong trào cách mạng vô sản Nga, là người phát triến học thuyết của Karl Marx (1818 - 1883) và Friedrich Engels đế xây dựng CNXH ở Nga - Liên Xô. P) Như sự kiện Ngày thứ bày cộng sản của ngành đường sat Kazan, được VI.Lê-nin nêu lên và phát động thành phong trào Ngày lao động cộng sản toàn Nga. Lê-nin, Vẽ vấn đề báo chí; Nxb Sự thật; H. Quan niêm cHun^ơồ truyền t/íán# xi^ chỉ có sự kiện mới giúp chúng ta hiểu được, nhận thức dược những vân đề phức tạp của đời sông.
Theo Từ điêh Tiếng Việ^, tuyên truyền là "giải thích rộng rãi để mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo. Khái niệm tuyên truyền vốn chỉ dùng trong chính trị, còn được mở rộng thành "Công tác tuyên truyền nhằm phổ biêh, truyền bá đường lôì, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ phục vụ sản xuâ't, đời sông, thông tin kịp thời tình hình thời sự, chính trị., định hướng tư tưởng trước các sự kiện tác động đêh tư tưởng, tình cảm, tâm trạng của quần chúng nhân dân"(2). Lênin cũng đã nói rằng, bất kỳ khái niệm nào nếu mở rộng đến mức nào đó sẽ trở nên vô nghĩa. Nhưng khái niệm (ngôn ngữ) sử dụng có phần do thói quen, dùng lâu ngày với tần suâ't dày và phạm vi rộng sẽ có thể tạo thành nếp dùng của cộng đồng.
Như vậy, khái niệm tuyên truyền trong cách hiểu và cách dùng của phương Tây và ở hệ thôhg các nước XHCN (ngày nay là các nước phát triển theo định hướng XHCN) khác nhau, thậm chí đối lập nhau(3). (1) Nhà xuâ't bản Đà Nang; 1997. w Tài liệu bồi dường thi nâng ngạch cao cap khôi đảng, đoàn thế năm 2013. P) Xem Nguyễn Văn Dửng, 'Tìm kiêm mô hình truyền thông chính sách công ở Việt Nam" (Tham luận Hội thảo quốc tế, tháng 11/2017); xem thêm Tạp chí Lý luận Chính trị, số 2/2018.
19 TRUYÉN THÒNG - lý, tfiuyet uà kỹ, năng, ca bản Tuyên truyền là một dạng thức đặc thù của truyền thông. Mặc dù cùng hướng tới mục đích theo đuổi của chủ thể, nhưng hai khái niệm này có những đặc điếm khác nhau. Nêù như truyền thông đề cao công cỉúmg, thì tuyên truyền đề cao, thậm chí tuyệt đôi hóa chủ thể; nêu truyền thông coi tương tác là yêu tô' thành công, thì tuyên truyền coi áp đặt, thậm chí cưỡng ép là cách ứng xử chủ đạo; nêu truyền thông coi chia sẻ và tôn trọng sự khác biệt là nguyên tắc, thì tuyên truyền coi sự lĩnh hội, châp hành và xóa bỏ sự khác biệt như tiêu chí thành công. Có thể so sánh hai khái niệm Truyền thông và Tuyên truyền trên một sô'nét chính được nhận diện như sau: Truyén thông Tuyên truyền • Đê cao công chúng Đé cao (tuyệt đối hóa) chủ thể • Đé cao tương tác bình đẳng Coi trọng áp đặt, một chiều • Coi trọng chia sẻ, tìm kiếm tương đổng, Nhấn mạnh truyền đạt để chấp tôn trọng sự khác biệt hành, có tính bắt buộc • Gia tăng tương đóng; giảm dần khác Tiến tới tương đồng, đồng nhất biệt; bảo lưu sự khác biệt.
bằng cách xóa bỏ sự khác biệt • Mô hình truyền thông hai chiều, đa Mô hình truyền thông một chiều chiều từ trên xuống • Là ngành kinh tế-dịch vụ xã hội phát Chủ yếu bao cáp vì mục đích triển (tập đoàn truyền thông) tuyên truyền chính trị 20 Chương í: Quan niêm cfuing. về' truyền tfián^ Truyền thông Tuyên truyén • Phương Tây chủ yếu dùng truyền Các nước theo định hướng thông trong chính sách đối nội, chủ yếu XHCN phổ biến dùng tuyên dùng tuyên truyền trong chính sách truyền cả trong chính sách dối đối ngoại nội lán đối ngoại Thực tiễn lịch sử xã hội loài người cho thâỳ, có những khái niệm, từ đó có thê’ mở rộng thành mô thức tổ chức xã hội(1). Dưới góc nhìn của lý thuyết truyền thông, Liên Xô là mô hình tổ chức xã hội được thie't kê'theo mô thức khái niệm tuyên truyền, cứng nhắc và áp đặt từ trên xuôhg, thiêu độ mở cần thiêt đế "cơ thế xã hội" có thê’ "hít thở khí trời", cho nên đêh khi "những người bên trong và bên trên" thây cần phải "cải tổ", cần "bẻ ghi" thi sự đò’ bể đã xảy ra. Và trong lĩnh vực truyền thông, đây là hai khái niệm cơ bản có vai trò quan trọng trong quá tr'inh từ thay đổi tư duy, nhận thức, đến tô’ chức và triển khai công việc hàng ngày.
Tuyên truyền là khái niệm gắn liền với hoạt động chính trị; từ khái niệm này, xua't hiện các khái niệm tuyên truyền chính trị (nội hàm khái niệm này có sự khác biệt với truyền thông chính trị), tuyên truyền chính sách (nội hàm khái niệm này được (1) Liên Xô là một điến hình của việc xây dựng mô thức tổ chức xã hội theo khái niệm tuyên truyền. Vì vậy, có quan điếm cho rằng, việc sụp đô’ Liên Xô ỉà sụp đổ một mô hình, cũng có lý của nó. Xem thêm báo Thời nay, tháng 9/2008. 21 TRUYỂN THÔNG - lý ttiưyét oà kỹ, nâng, cứ bân dùng tùy theo mục đích, tínlì chất và giai đoạn hay công nghệ chính sách), tuyên truyền chính sách công.
Trong tlĩực tê'z nhiều khi gọi là truyền thông, nhung nhận thức và cách làm vẫn là. Như vậy, truyền thông và tuyên truyền là hai khái niệm có thể có cùng mục đích nhưng khác nhau về phưong thức tô’ chức thực hiện; trong đó, tuyên truyền là dạng thức (hay mô hình) truyền thông đặc thù. Và từ hai khái niệm này, xuât hiện những khái niệm phái sinh, đáp ứng nhu cầu truyền thông giao tiêp trong xã hội tùy theo mục đích sử dụng và hoàn cảnh cụ thể. Tương tác Tương tác là khái niệm được dùng sớm và phổ biến trong các khoa học vật lý, y học, sinh học,.
Trong truyền thông, tương tác được xem xét trong moi quan hệ giữa các cá nhân, các nhóm xã hội và các tiếu hệ thôhg - hệ thôhg con (thiết chê', thể chế con) xã hội. Tương tác là khái niệm gần gũi với quan hệ xã hội, được dùng khá phổ biêh trong cách tiếp cận xã hội học. Để thỏa mãn các nhu cầu xã hội, đòi hỏi chủ thể xã hội phải thiêt lập những môì liên hệ trao đổi tương tác, tác động, ảnh hưởng qua lại giữa các thành phâh, chủ thế xã hội. Đó là điều kiện thie't yêu, nhờ đó, các tô’ chức, đoàn thế và cả hệ thôhg xã hội mới có thể tồn tại, mềm dẻo, có độ mở và hoạt động hiệu quả.
22 Chương í: Quan niệm cfutn^ ơầ truyền líiõnạ Tương tác diễn ra ở nhiểu cap độz phạm vi và phương thức khác nhau, tùy theo tính chát vân đê' cũng như các mối quan hệ tác động giữa các yêu tô' trong điểu kiện xác thực củng như mục đích giao tiếp. Xã hội truyền thông coi trọng và đề cao tương tác xã hội và coi đó là phương thức phát triến bền vững. Tương tác xã hội giúp phát triến bền vững, giảm bớt tiềm ẩn xung đột hoặc rủi ro bùng nổ xã hội; mặt khác, xã hội truyền thông luôn có khả năng tạo "độ mở" để "hít thở khí trời", bô’ sung sinh khí mới cho xã hội và là môi trường xây dựng xã hội kiến tạo. Tương tác xã hội sẽ tạo cơ hội mở mang tư duy, kích thích suy nghĩ tích cực và năng lực sáng tạo của mỗi công dân.
Mạng xã hội (MXH) là phương thức truyền thông trên mạng Internet đã và đang tạo ra khả năng tương tác xã hội theo nhóm và kêt nôi giữa các nhóm xã hội. Chính quá tr'inh tương tác và kê't nôì này đã hình thành sức mạnh xã hội cho MXH; từ đó thu hút công chúng, cạnh tranh lôi kéo công chúng báo chí tham gia và đang hình thành thực thể truyền thông ngày càng được quan tâm.