Bài 1: Môn địa lí với định hướng nghề nghiệp cho học sinh I. Khái quát về môn địa lí ở trường phổ thông - Môn Địa lí ở trường phổ thông bắt nguồn từ khoa học Địa lí. - Địa lí học gồm địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế - xã hội. Hai bộ phận này gắn bó chặt chẽ và có mối quan hệ mật thiết với nhau, phản ánh sinh động thực tế cuộc sống.
- Môn Địa lí liên quan chặt chẽ với bản đồ, lược đồ, sơ đồ, bảng số liệu,. và với việc tìm hiểu thực tế địa phương bên ngoài trường học II. Vai trò của môn địa lí với cuộc sống - Môn Địa lí cung cấp kiến thức cơ bản về môi trường sống xung quanh và các vùng trên bề mặt Trái Đất. - Giúp chúng ta biết cách ứng xử và thích nghi được với những thay đổi đang diễn ra trong tự nhiên và xã hội.
- Góp phần hình thành phẩm chất, năng lực và mở ra những định hướng về nghề nghiệp trong tương lai. Định hướng nghề nghiệp - Định hướng nghề nghiệp của môn Địa lí tương đối rộng và cụ thể. - Bằng năng lực và sở thích của mình, em có thể lựa chọn một trong những nhóm nghề nghiệp sau đây: * Thứ nhất, nhóm nghề nghiệp liên quan đến kiến thức địa lí tự nhiên - Nhóm nghề nghiệp về thành phần tự nhiên, như: khí hậu học, thổ nhưỡng học - Nhóm nghề nghiệp về tự nhiên tổng hợp, như: môi trường, tài nguyên thiên nhiên… * Thứ hai, nhóm nghề nghiệp liên quan đến kiến thức địa lí kinh tế - xã hội - Nhóm nghề nghiệp về địa lí dân cư, như: dân số học, đô thị học…. - Nhóm nghề nghiệp về địa lí các ngành kinh tế, như: nông nghiệp, du lịch… Hướng dẫn viên du lịch * Thứ ba, nhóm nghề nghiệp liên quan đến kiến thức địa lí tổng hợp - Nhóm nghề nghiệp về địa lí tổng hợp, như: quy hoạch, GIS… - Nhóm nghề nghiệp đào tạo giáo viên và các nghề nghiệp khác.
Giáo viên dạy môn địa lí Bài 2: Sử dụng bản đồ I. Một số phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lí trên bản đồ 1. Phương pháp kí hiệu - Đặc điểm: + Thường được sử dụng để biểu hiện vị trí của những đối tượng địa lí phân bố theo điểm + Ví dụ: trung tâm hành chính, sân bay, nhà ga, điểm dân cư, trung tâm công nghiệp,. - Khả năng thể hiện + Kí hiệu bản đồ biểu hiện số lượng, quy mô và chất lượng của đối tượng địa lí.
+ Các kí hiệu được đặt vào đúng vị trí phân bố của đối tượng trên bản đồ. - Có ba dạng kí hiệu bản đồ chủ yếu: + Kí hiệu dạng chữ + Kí hiệu dạng tượng hình + Kí hiệu dạng hình học Hình 2. Các dạng kí hiệu bản đồ chủ yếu 2. Phương pháp đường chuyển động - Đặc điểm: + Được sử dụng để biểu hiện sự di chuyển của các quá trình, đối tượng địa lí tự nhiên và kinh tế - xã hội.
+ Ví dụ: hướng gió, hướng dòng biển, hướng động vật di cư, hướng vận tải hàng hoá, di dân,. - Khả năng thể hiện: Màu sắc và kích thước (độ đậm, chiều rộng, chiều dài) các đường chuyển động biểu hiện kiểu loại, khối lượng hay tốc độ di chuyển của đối tượng. Bản đồ các dòng biển chính trên thế giới bằng phương pháp đường chuyển động 3. Phương pháp chấm điểm - Đặc điểm: + Được sử dụng để biểu hiện các đối tượng địa lí có sự phân bố, phân tán trong không gian.
+ Ví dụ: phân bố dân cư, phân bố các cơ sở chăn nuôi,. - Khả năng thể hiện: Mỗi chấm tương ứng với một giá trị nhất định. Phương pháp khoanh vùng - Đặc điểm: + Thường sử dụng để biểu hiện những đối tượng địa lí phân bố tập trung (hoặc phổ biến) trên một không gian lãnh thổ nhất định. + Ví dụ: sự phân bố các kiểu rừng, các nhóm đất, các vùng chuyên canh cây trồng,.
- Khả năng thể hiện: Mỗi vùng phân bố được xác định bằng nền màu, nét chải hoặc kí hiệu đặc trưng cho đối tượng biểu hiện. Bản đồ các nhóm đất chính trên thế giới (thể hiện bằng phương pháp khoanh vùng) 5. Phương pháp bản đồ - biểu đồ - Là phương pháp biểu hiện sự phân bố của đối tượng địa lí bằng cách đặt các biểu đồ vào không gian phân bố của đối tượng địa lí đó trên bản đồ. - Ví dụ: cơ cấu sử dụng đất theo lãnh thổ, cơ cấu dân số các quốc gia, diện tích và sản lượng cây trồng,.
Bản đồ quy mô và cơ cấu sử dụng đất của các châu lục năm 2019 - Ngoài các phương pháp trên, còn có các phương pháp biểu hiện bản đồ khác như: phương pháp nền chất lượng, phương pháp đường đẳng trị,. Sử dụng bản đồ trong học tập và đời sống - Khái niệm: Bản đồ (Atlat) là phương tiện không thể thiếu trong học tập Địa lí. - Các bước sử dụng bản đồ trong học tập bao gồm: + Bước 1: Lựa chọn nội dung bản đồ. + Bước 2: Đọc chú giải, tỉ lệ bản đồ và xác định phương hướng trên bản đồ.
+ Bước 3: Đọc nội dung bản đồ. - Vai trò: + Bản đồ được sử dụng ngày càng phổ biến trong đời sống. + Việc sử dụng bản đồ số và GPS giúp cho đời sống được thuận tiện hơn. Một số ứng dụng của GPS và bản đồ số trong đời sống - Khái niệm: GPS là một hệ thống các vệ tinh bay xung quanh Trái Đất theo một quỹ đạo chính xác và phát tín hiệu có thông tin xuống Trái Đất.
- Đặc điểm: + Các máy thu GPS nhận thông tin này để xác định vị trí của đối tượng trên mặt đất, được hiển thị thông qua hệ toạ độ địa lí và độ cao tuyệt đối. + Hệ thống GPS thường được kết nối với bản đồ số và phát triển trên môi trường internet, tạo thành hệ thống bản đồ trực tuyến, được tích hợp sẵn trên máy tính hoặc các thiết bị điện tử thông minh. - Vai trò: GPS và bản đồ số được ứng dụng rất phổ biến trong đời sống. - Ví dụ: xác định vị trí người dùng hoặc các đối tượng địa lí trên bề mặt Trái Đất, tìm kiếm đường đi, giảm sát lộ trình, tốc độ di chuyển,… Sử dụng dịch vụ định vị GPS để tìm kiếm đường đi Bài 3: Trái Đất.
Thuyết kiến tạo mảng I. Nguồn gốc hình thành Trái Đất - Ban đầu, hệ Mặt Trời là một đám mây bụi quay tròn gọi là tinh vần Mặt Trời. - Trong khi quay, lực hấp dẫn và quán tính làm đám mây trở nên phẳng như hình dạng một cái đĩa, vuông góc với trục quay của nó. Đồng thời khối bụi lớn nhất tập trung vào trung tâm, nóng lên và cô đặc lại tạo thành Mặt Trời, phần còn lại xung quanh tạo thành các vành xoắn ốc.
- Các vành xoắn ốc dần dần kết tụ lại dưới tác dụng của trọng lực và trở thành các hành tinh, trong đó có Trái Đất. Mô tả sự hình thành Trái Đất II. Vỏ Trái Đất. Vật liệu cấu tạo vỏ Trái Đất 1.
Vỏ Trái Đất - Vị trí: nằm ở ngoài cùng của Trái Đất, gồm vỏ lục địa và vỏ đại dương. - Đặc điểm: độ dày dao động từ 5 km (ở đại dương) đến 70 km (ở lục địa), rắn chắc. Vật liệu cấu tạo của vỏ Trái Đất - Vật liệu cấu tạo nên vỏ Trái Đất là khoáng vật và đá. Vỏ Trái Đất có trên 5 000 loại khoáng vật (90 % là nhóm khoáng vật si-li-cat).
- Ba loại đá cấu tạo nên vỏ Trái Đất gồm: đá mac-ma, đá trầm tích và đá biến chất: + Đá Mác-na (Gra-nit, ba-dan,.): có các tinh thể thô hoặc mịn nằm xen kẽ nhau. Được hình thành từ khối mac-ma nóng chảy ở dưới sâu, nguội và rắn đi khi trào lên mặt đất. + Đá trầm tích (Đá sét, đá vôi,.): Có các lớp vật liệu dày, mỏng với màu sắc khác nhau, nằm song song, xen kẽ với nhau. Đá được hình thành ở những miền đất trũng, do sự lắng tụ và nén chặt của các vật liệu phá huỷ từ các loại đá khác nhau.
+ Đá biến chất (Đá gơ-nai, đá hoa,.): Có các tinh thể màu sắc khác nhau. Đá được hình thành từ các loại đá mac-ma và trầm tích, bị thay đổi tính chất trong điều kiện chịu tác động của nhiệt độ cao và sức nén lớn. Mô phỏng cấu tạo của vỏ Trái Đất II. Thuyết kiến tạo mảng 1.
Đặc điểm - Theo thuyết kiến tạo mảng, thạch quyển gồm một số mảng kiến tạo. Các mảng này có bộ phận nổi cao trên mực nước biển là lục địa, các đảo và có bộ phận trũng, thấp bị nước bao phủ là đại dương. - Các mảng kiến tạo nổi lên trên lớp vật chất quánh dẻo thuộc phần trên của lớp man- ti. Hoạt động của các dòng đối lưu vật chất quánh dẻo và có nhiệt độ cao trong lớp man-ti trên làm cho các mảng không đứng yên mà dịch chuyển trên lớp quánh dẻo này.
Lược đồ các mảng kiến tạo lớn của thạch quyển - Mỗi mảng kiến tạo đều trôi nổi và di chuyển độc lập với tốc độ chậm (chỉ khoảng vài cm/năm). Trong khi dịch chuyển, các mảng có thể tách rời nhau, xô vào nhau. Kết quả: Tạo ra các sống núi ngầm, động đất, núi lửa, các dãy núi trẻ,. Bài 4: Hệ quả địa lí các chuyển động chính của Trái Đất I.
Hệ quả chuyển động tự quay quanh vũ trụ của Trái Đất 1. Sự luân phiên ngày đêm - Nguyên nhân: do Trái Đất hình cầu và tự quay quanh trục nên ở mọi nơi trên bề mặt Trái Đất đều có sự luân phiên ngày và đêm. - Đặc điểm + Chiều tự quay: từ Tây sang Đông. + Độ nghiêng của trục so với mặt phẳng quỹ đạo 1 góc 66033’.
+ Chu kì tự quay hết một vòng là 24 giờ (1 ngày đêm). Chuyển động tự quay quanh trục và hiện tượng ngày đêm luân phiên trên Trái Đất II. Giờ trên Trái Đất - Giờ địa phương: + Do Trái Đất hình cầu và tự quay quanh trục nên các địa điểm trên cùng một kinh tuyến có một giờ riêng, gọi là giờ địa phương. + Các địa điểm nằm trên kinh tuyến khác nhau có giờ địa phương khác nhau.
- Giờ khu vực: + Để thuận lợi cho sinh hoạt hằng ngày của mỗi quốc gia, người ta phải quy định một giờ thống nhất cho từng khu vực (múi giờ). + Trên bề mặt Trái Đất có 24 khu vực giờ. Giờ của kinh tuyến đi qua giữa khu vực được lấy làm giờ chung cho cả khu vực đó.