mở đầu cho sự chuyển biến của chủ nghĩa xã hội từ học thuyết lý luận trở thành hiện thực lịch sử, mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người, đó là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã có ảnh hưởng tích cực và tác động sâu sắc đến cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa, phụ thuộc trên thế giới. Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành hệ tư tưởng tiến bộ soi đường cho giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động ở các nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở quốc gia mình. Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp diễn ra gay go, quyết liệt và vô cùng phức tạp giữa một bên là Liên Xô - nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới -, giai cấp công nhân và nhân dân lao động các dân tộc bị áp bức với một bên là chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa quân phiệt phát xít và các thế lực phản động khác hướng đến các mục tiêu cơ bản của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Giai đoạn thứ hai: Từ sau năm 1945 đến cuối những năm 60 của thế kỷ XX. Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945) kết thúc với sự sụp đổ hoàn toàn của phát xít Đức, I-ta-li-a và Nhật Bản. Thắng lợi vĩ đại thuộc về Hồng quân Liên Xô và các dân tộc trên thế giới đã kiên cường đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít. Chiến tranh kết thúc đã dẫn đến những biến đổi căn bản của tình hình thế giới; sự ra đời của các Nhà nước dân chủ nhân dân và việc thành lập chính quyền quốc gia dân tộc ở các nước mới giành được độc lập đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử chính trị thế giới.
Trong giai đoạn này chủ nghĩa xã hội phát triển từ phạm vi một nước đã mở rộng ra nhiều nước ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ Latinh và cùng với Liên Xô hình thành nên 11 hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Sau khi ra đời các nước xã hội chủ nghĩa xây dựng đất nước theo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, đó là xác lập vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản và giai cấp công nhân; xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân và thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản; thực hiện dân chủ hoá đời sống xã hội; xóa bỏ chế độ tư hữu, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất… Trong giai đoạn này tổ chức Liên hợp quốc (tiếng Anh: United Nations, viết tắt là UN) được thành lập đã xác lập những nguyên tắc nền tảng trong quan hệ quốc tế, như nguyên tắc tôn trọng quyền bình đẳng, quyền tự quyết của các dân tộc; giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, không dùng vũ lực, tôn trọng luật pháp quốc tế… đã góp phần tích cực vào việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia, làm trung tâm điều phối các nỗ lực quốc tế vì các mục tiêu phát triển chung. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Liên Xô đã đạt được những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế, văn hóa, chăm sóc sức khỏe, phát triển y tế, giáo dục, bảo đảm phúc lợi xã hội cho nhân dân lao động. Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã đạt được những bước tiến lớn trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, chinh phục vũ trụ, có tiềm lực quân sự và công nghiệp quốc phòng hùng mạnh.
Với những thành tựu này, hệ thống xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô đã trở thành là chỗ dựa tin cậy cho phong trào cách mạng thế giới; hỗ trợ, giúp đỡ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa và phụ thuộc chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc; góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Hệ thống xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn này phát triển lớn mạnh, đủ sức kiềm chế mọi hành động đơn phương, hiếu chiến chống phá cách mạng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế. Chế độ xã hội chủ nghĩa được thiết lập không chỉ mở ra một xu thế phát triển tất yếu cho các dân tộc là phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, mà bằng sự giúp đỡ tích cực, có hiệu quả về nhiều mặt, các nước xã hội chủ nghĩa đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Nhờ đó mà hàng chục dân tộc bị nô dịch, bị áp bức bóc lột đã làm cách mạng giải phóng dân tộc thành công, giành độc lập dân tộc, làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ, làm thất bại chủ nghĩa thực dân mới.
Đồng thời, thực tiễn phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở những quốc gia mới giành được độc lập đã bổ sung, phát triển sáng tạo, làm phong phú thêm hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thế kỷ XX. Giai đoạn thứ ba: Từ đầu những năm 70 đến đầu những năm 80 của thế kỷ XX. 12 Bắt đầu từ cuối những năm 60 của thế kỷ XX, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu gặp phải nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội; những khó khăn này chậm được giải quyết, cùng với những sai lầm trong đường lối, chính sách xây dựng chủ nghĩa xã hội đã làm cho Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu từng bước lâm vào tình trạng khủng hoảng. Từ cuối những năm 1970 của thế kỷ XX là giai đoạn đỉnh điểm của sự đối đầu căng thẳng Đông – Tây với việc Liên Xô đưa quân vào Afghanistan(1).
Tình hình trở nên trầm trọng hơn nữa bởi các sự kiện diễn ra ở Ba Lan giai đoạn 1980 - 1981. Thời điểm đó, kinh tế ở Ba Lan gặp nhiều khó khăn, phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân. Tình hình này được các lực lượng đối lập lợi dụng để kích động tâm lí bất mãn và chống đối nhà nước, chống đổi chính quyền trong công chúng. Liên Xô ngày càng bộc lộ những sai lầm, khuyết điểm, yếu kém của cơ chế quản lí, điều hành các mặt đời sống đất nước; những sai lầm, khuyết điểm đó chậm được phát hiện, chậm được khắc phục đã gây ra những hậu quả nặng nề.
Từ tháng 4 năm 1989 trở đi, sự đổ vỡ diễn ra liên tiếp ở các nước Đông Âu, đến tháng 9 năm 1991, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và 6 nước Đông Âu đã bị sụp đổ. Trong giai đoạn này sự đổ vỡ cũng diễn ra ở Mông Cổ, Anbani và Nam Tư. Giai đoạn thứ tư: từ cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay. Trong giai đoạn này, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu tan rã (Liên Xô sụp đổ tháng 12 năm 1991).
Chiến tranh Lạnh kéo dài hơn 40 năm chấm dứt, trật tự cũ - trật tự hai cực đối lập - hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên đứng đầu và hệ thống tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu không còn tồn tại, thế giới từng bước chuyển sang trật tự mới, trật tự thế giới đa cực. Sự sụp đổ của Liên Xô là sự kiện chính trị phức tạp do nhiều nguyên nhân tổng hợp gây nên; trong đó nguyên nhân sâu xa là do những sai lầm, khuyết tật của mô hình xã hội chủ nghĩa Xô Viết vốn rất ưu việt trong thời kỳ trước, nhưng đã trở nên trì trệ, xơ cứng, lạc hậu, không còn phù hợp, chậm đổi mới nên không đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Liên Xô tan rã cơ bản là do những sai lầm nghiêm trọng về đường lối chính trị, chiến lược và sách lược của Đảng Cộng sản Liên Xô, đặc biệt là đường lối cải tổ sai lầm do M. Gorbachev đề xướng và thực hiện là nhân tố trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô.
Trước những năm 80 của thế kỷ XX, Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên Xô đã không coi trọng đúng mức công tác xây dựng Đảng, đã để cho các phần tử cơ hội, thực dụng len lỏi vào nắm giữ những trọng trách chủ chốt trong ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước; những phần tử này đã phản bội lý tưởng xã hội chủ nghĩa và lợi ích quốc gia - dân tộc Liên bang Xô 1. Liên Xô đưa quân vào Afghanistan cuối tháng 12/1979; cuộc chiến tại Afghanistan không đem lại hiệu quả khiến Liên Xô bị sa lầy tại đây trong suốt 10 năm. Ngày 15/05/1988, Liên Xô bắt đầu rút quân khỏi Afghanistan. 13 Viết, phản bội tư tưởng của V.Lênin về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, xóa bỏ vai trò lãnh đạo và làm tan rã Đảng Cộng sản, làm cho Đảng mất quyền lãnh đạo đất nước.
Đây chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô. Sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã để lại nhiều bài học quý giá cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhất là bài học về vai trò lãnh đạo đất nước của Đảng cầm quyền, về năng lực quản trị, quản lý xã hội và cách thức đối mặt với khó khăn, thách thức, cách thức giải quyết những mâu thuẫn trong quá trình phát triển xã hội. Nhưng chủ nghĩa xã hội với tư cách là một chế độ xã hội với tốt đẹp đã không cam chịu thất bại. Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, tiêu biểu là Trung quốc và Việt Nam, vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng tốt đẹp, đã tiến hành công cuộc cải cách, đổi mới và giành được những thành tựu to lớn, tiếp tục khẳng định bản chất và tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội hiện thực.
Tuy nhiên, trong quá trình cải cách, đổi mới các nước xã hội chủ nghĩa gặp rất nhiều khó khăn, thách thức; và các thế lực thù địch vẫn tiếp tục chống phá, tìm cách xoá bỏ chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Hiện nay, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những bước hồi phục.