Năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu toàn diện về nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn hiện nay cùng những bài học kinh nghiệm.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
107
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc

Năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản giữ vai trò quyết định đối với sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa. Khái niệm này phản ánh trình độ lãnh đạo nhà nước, quản lý xã hội và tổ chức thực tiễn của chính đảng vô sản. Sau biến cố chính trị tại Liên Xô và Đông Âu, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhanh chóng tổng kết sâu sắc các bài học lịch sử. Đảng xác định rõ phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm hàng đầu. Năng lực cầm quyền không phải là trạng thái bất biến. Yếu tố này đòi hỏi quá trình tự đổi mới liên tục để thích ứng với bối cảnh phát triển của thời đại. Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn coi trọng việc củng cố địa vị lãnh đạo thông qua nâng cao hiệu quả điều hành quốc gia. Quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo giúp Đảng duy trì sự ổn định chính trị vững chắc. Đây là nền tảng cốt lõi thúc đẩy kinh tế tăng trưởng vượt bậc trong nhiều thập kỷ qua.

1.1. Khái niệm và tiêu chí đánh giá năng lực cầm quyền

Năng lực cầm quyền thể hiện qua khả năng chuyển hóa đường lối chính trị thành chính sách cụ thể của nhà nước. Tiêu chí đánh giá bao gồm năng lực hoạch định chiến lược, năng lực thể chế hóa chủ trương và hiệu quả quản trị xã hội. Bên cạnh đó, mức độ đồng thuận của nhân dân đối với các quyết sách là thước đo then chốt. Đảng Cộng sản lãnh đạo thông qua hệ thống pháp luật và bộ máy nhà nước. Năng lực cầm quyền vững mạnh bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa và phục vụ lợi ích tối cao của quốc gia dân tộc.

1.2. Cơ sở lý luận về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định chính đảng của giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau khi giành chính quyền, Đảng chuyển trọng tâm từ đấu tranh cách mạng sang quản lý nhà nước và phát triển kinh tế. Kinh nghiệm lịch sử chứng minh vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng là nguyên tắc bất di bất dịch. Việc phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước giúp bộ máy vận hành thông suốt, nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật và củng cố niềm tin xã hội.

II. Thực trạng và nhân tố tác động năng lực cầm quyền Trung Quốc

Thực tiễn cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc chịu sự tác động mạnh mẽ từ bối cảnh toàn cầu hóa và công cuộc cải cách mở cửa. Đảng phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn từ sự chuyển đổi mô hình kinh tế sang cơ chế thị trường. Nguy cơ suy thoái tư tưởng chính trị, tham nhũng và tệ quan liêu đe dọa trực tiếp đến tính chính danh cầm quyền. Nhận thức rõ điều này, các kỳ Đại hội Đảng từ Đại hội XIV đến nay đều tập trung xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đảng tăng cường kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật nội bộ và đẩy mạnh hoàn thiện hệ thống pháp luật. Năng lực phản ứng chính sách trước các biến động quốc tế cũng được nâng lên rõ rệt. Những thành tựu kinh tế nổi bật khẳng định tính đúng đắn của đường lối lãnh đạo khoa học. Tuy nhiên, tình trạng phân hóa giàu nghèo và mâu thuẫn xã hội vẫn đặt ra áp lực lớn cho sự quản trị của Đảng.

2.1. Những nhân tố tác động đến năng lực cầm quyền hiện nay

Môi trường quốc tế biến động phức tạp đặt ra yêu cầu cao về năng lực bảo vệ an ninh quốc gia và vị thế đối ngoại. Ở trong nước, sự phát triển nhanh của kinh tế tư nhân tạo ra nhiều tầng lớp xã hội mới với nhu cầu đa dạng. Không gian mạng và công nghệ số phát triển vừa tạo cơ hội quản trị hiện đại, vừa làm gia tăng nguy cơ lan truyền thông tin tiêu cực. Năng lực cầm quyền vì vậy phụ thuộc chặt chẽ vào khả năng thích ứng linh hoạt, xử lý kịp thời các rủi ro xã hội và duy trì ổn định vĩ mô.

2.2. Đánh giá thành tựu và hạn chế trong thực tiễn cầm quyền

Thành công lớn nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc là duy trì tốc độ phát triển kinh tế cao, đưa hàng trăm triệu người thoát nghèo bền vững. Năng lực hoạch định chiến lược dài hạn và điều hành vĩ mô đạt hiệu quả vượt trội. Dẫu vậy, công tác quản trị nội bộ từng bộc lộ lỗ hổng trước các hành vi tham nhũng quy mô lớn. Một số cấp ủy địa phương còn tình trạng lạm quyền hoặc buông lỏng lãnh đạo. Những hạn chế này đòi hỏi Đảng phải kiên quyết đẩy mạnh chiến dịch chỉnh đốn Đảng nghiêm minh và toàn diện.

III. Phương thức nâng cao năng lực cầm quyền Đảng Cộng sản Trung Quốc

Đảng Cộng sản Trung Quốc triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp chiến lược nhằm hiện đại hóa năng lực quản trị quốc gia. Trước hết, Đảng kiên trì đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa. Mọi hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên đều phải tuân thủ nghiêm ngặt Hiến pháp và pháp luật. Đảng tích cực đổi mới phương thức cầm quyền theo hướng khoa học, dân chủ và pháp luật hóa. Công tác cán bộ được chuẩn hóa thông qua cơ chế tuyển chọn, đào tạo và giám sát chặt chẽ. Chiến dịch phòng chống tham nhũng 'đả hổ diệt ruồi' được thực hiện quyết liệt, không có vùng cấm. Bên cạnh đó, Đảng ứng dụng sâu rộng công nghệ số vào hệ thống giám sát xã hội và cung cấp dịch vụ công. Việc đổi mới công tác lý luận giúp củng cố nền tảng tư tưởng xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc trong kỷ nguyên mới. Những giải pháp này đã tạo chuyển biến mạnh mẽ trong năng lực lãnh đạo thực tế.

3.1. Xây dựng Nhà nước pháp trị và kiểm soát quyền lực chặt chẽ

Đảng xác định cầm quyền theo pháp luật là nguyên tắc cốt lõi của nền chính trị hiện đại. Quyền lực nhà nước được phân định rành mạch và giám sát nghiêm ngặt qua nhiều tầng nấc thanh tra chuyên trách. Đảng kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện lạm quyền, suy thoái và tham nhũng trong bộ máy công quyền. Cơ chế kiểm soát quyền lực giúp ngăn chặn nguy cơ tha hóa quyền lực, nâng cao tính minh bạch công vụ. Hệ thống tư pháp được hoàn thiện nhằm bảo đảm pháp luật được thực thi công bằng, nghiêm minh trên toàn lãnh thổ quốc gia.

3.2. Đổi mới công tác cán bộ và phương thức lãnh đạo xã hội

Công tác cán bộ được xem là then chốt của mọi then chốt trong xây dựng Đảng. Hệ thống tiêu chuẩn đánh giá cán bộ kết hợp chặt chẽ giữa phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn thực tế. Đảng chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ có tư duy cải cách và kỹ năng quản lý hiện đại. Đồng thời, phương thức tuyên truyền và vận động quần chúng được đổi mới linh hoạt trên các nền tảng truyền thông mới, tạo sự đồng thuận xã hội cao đối với các chính sách lớn.

IV. Kinh nghiệm và gợi mở cho năng lực cầm quyền của Đảng Việt Nam

Nghiên cứu kinh nghiệm cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc đem lại nhiều bài học giá trị cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Cả hai đảng đều chia sẻ mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và giữ vai trò lãnh đạo duy nhất đối với nhà nước. Để bảo đảm vị thế cầm quyền vững chắc, Đảng Cộng sản Việt Nam cần tiếp tục kiên định nền tảng tư tưởng Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Việc đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa luôn là nhiệm vụ trung tâm. Bên cạnh đó, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và kiên quyết. Việc ngăn chặn hiệu quả tình trạng 'tự diễn biến', 'tự chuyển hóa' là yêu cầu sống còn. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng cần gắn liền với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nâng cao năng lực cầm quyền chính là chìa khóa hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

4.1. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn cầm quyền của Trung Quốc

Bài học then chốt là luôn lấy phát triển kinh tế làm nhiệm vụ trung tâm nhằm củng cố vững chắc cơ sở vật chất cho chế độ. Đi đôi với phát triển kinh tế là yêu cầu siết chặt kỷ luật Đảng, phòng chống tham nhũng triệt để và không thỏa hiệp trước mọi sai phạm. Ngoài ra, việc chủ động nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn giúp Đảng kịp thời điều chỉnh đường lối lãnh đạo phù hợp với từng giai đoạn phát triển, tránh rơi vào tình trạng giáo điều, xơ cứng hay trì trệ chính sách.

4.2. Gợi mở giải pháp nâng cao năng lực cầm quyền tại Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Cần phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa tổ chức đảng và cơ quan nhà nước, khắc phục triệt để tình trạng bao biện làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo các cấp cần chú trọng rèn luyện phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị và năng lực chuyên môn quản trị hiện đại, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths xdđcqnn năng lực cầm quyền của đảng cộng sản trung quốc trong giai đoạn hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN 1. Một số vấn đề về đảng cộng sản cầm quyền 1. Khái niệm đảng chính trị, đảng cầm quyền, đảng cộng sản cầm quyền 1. Đảng chính trị (political party) Đảng chính trị là một tổ chức gồm những người tiên tiến, đại diện cho lợi ích của một giai cấp hay tầng lớp xã hội.

Đó là tổ chức của những người tự nguyện cùng chung một chí hướng đấu tranh cho lợi ích của một giai cấp, tầng lớp nhất định trong xã hội. Đảng chính trị có vai trò lãnh đạo giai cấp hay tầng lớp đó theo đuổi mục tiêu nhất định và ra sức để hiện thực hóa những mục tiêu đó bằng chủ trương, chính sách gây ảnh hưởng đến nhà nước và xã hội, trong đó mục tiêu cao nhất là giành và giữ quyền lực nhà nước. Vì vậy có thể nhìn nhận đảng cầm quyền theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Nghĩa rộng là cầm quyền tuyệt đối, đảng chính trị nắm và lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, có thể định hướng xã hội vận động theo ý chí của mình (điều này tương đồng với bản chất ĐCS duy nhất cầm quyền tại các quốc gia theo đường lối XHCN).

Hiểu theo nghĩa hẹp là cầm quyền không tuyệt đối, đảng chính trị giành chiến thắng trong bầu cử dân chủ và cạnh tranh, có quyền thành lập chính phủ nên chỉ áp đặt ý chí của đảng với xã hội thông qua hành pháp (đây là cách hiểu phổ biến trên thế giới hiện nay, theo mô hình đảng chính trị ở các nước theo tư bản chủ nghĩa). Đảng chính trị thực chất đã hình thành từ thời kỳ cổ đại ở phương Tây, trong các chế độ nhà nước dân chủ chủ nô. Hình thức “Viện nguyên lão” mặc dù vẫn là tổ chức của giai cấp quý tộc, nhưng hình thành dân chủ trong thảo luận, tranh luận về những vấn đề của quốc gia đại sự là môi trường hình thành các trường phái tư tưởng, từ đó hình thành các đảng phái. Tính chất chính trị 14 của các tổ chức đó mặc dù chưa đầy đủ như các đảng chính trị hiện nay, song cũng có thể coi là những hình thức ban đầu của đảng chính trị trên thế giới.

Với sự phát triển không ngừng của nhân loại, trải qua nhiều thế kỷ chìm đắm trong “đêm trường trung cổ” với “giáo lý, kinh viện”, sau khi “bừng tỉnh” nền khoa học kỹ thuật, triết học, chính trị học châu Âu phát triển đã kéo theo sự ra đời của chủ nghĩa tư bản gắn liền với nền dân chủ tư sản, đấu tranh giai cấp, các đảng chính trị xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII và phát triển mạnh mẽ trong suốt thế kỷ XIX. Ban đầu, các đảng chính trị ra đời từ giới quý tộc, thượng lưu, tiếp đó bao gồm các nhóm tư sản và các nhân vật tinh hoa từ các lĩnh vực khoa học, triết học, nghệ thuật… trào lưu phát triển đến đỉnh cao là sự xuất hiện đảng chính trị với sự tham gia của rộng rãi quần chúng. Từ thế kỷ XX đến ngày nay, các đảng chính trị xuất hiện với nhiều hình thức, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, thực hiện các hoạt động tập hợp, tổ chức lực lượng những người cùng chính kiến, quan điểm để đấu tranh vì nhiều mục tiêu khác nhau. Các đảng lớn thường có cơ sở từ các phong trào dân tộc, sắc tộc, tôn giáo hoặc giai cấp, giới quân sự… Nổi bật là những đảng chính trị có tính giai cấp tương ứng với cơ cấu của nó: đảng tư sản, đảng vô sản, đảng nông dân, đảng địa chủ, đảng tiểu tư sản, cũng có thể là liên minh giai cấp (giữa vô sản với tiểu tư sản, giữa tư sản và địa chủ…).

Do nguồn gốc hình thành rất đa dạng, nên khái niệm đảng chính trị còn tùy thuộc vào quan niệm, cách tiếp cận khác nhau. Nhà đảng học người Pháp M. Duverger, nghiên cứ đảng chính trị dưới góc độ tranh cử, giành chính quyền, cho rằng đảng là tổ chức của những người tự nguyện, được lập ra để tranh cử vào các cơ quan công quyền. Học giả người Mỹ Steffen: “đảng chính trị là một nhóm người được tổ chức lại nhằm giành chiến thắng trng các cuộc bầu cử, để giành quyền điều hành chính phủ và quyết định chính sách công” [39, tr.

15 Theo tác giả Từ điển Chính quyền và chính trị Hoa Kỳ, Jay M.Shafrits: đảng chính trị là tổ chức tìm cách nắm quyền lực chính trị bằng cách bầu thành viên của mình vào các cơ quan nhà nước, nhờ đó tư tưởng chính trị của họ được phản ánh trong chính sách công cộng [39, tr. Từ điển Bách khoa Triết học (Liên Xô cũ) định nghĩa: Đảng chính trị là tổ chức chính trị thể hiện những lợi ích của một giai cấp hay của một tầng lớp xã hội, liên kết những đại diện ưu tú nhất của giai cấp để lãnh đạo giai cấp đạt tới những mục đích và lý tưởng nhất định [36, tr. Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: Đảng là một nhóm người kết lại với nhau để hoạt động với mục đích nhất định; là tổ chức chính trị đại diện và đấu tranh vì quyền lợi của một giai cấp, hay một tổ chức xã hội, liên kết những đại diện ưu tú nhất của giai cấp để lãnh đạo giai cấp đạt tới mục đích, lý tưởng nhất định. Ở một cách tiếp cận khác với tư tưởng của các chính trị gia phương Tây, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ rõ bản chất của đảng chính trị, với tư cách là tổ chức đại diện cho lợi ích của giai cấp, thể hiện lợi ích cơ bản của giai cấp trong cương lĩnh cũng như trong hoạt động của mình.

Khẳng định đảng chính trị là một phạm trù lịch sử, gắn liền với sự phân chia xã hội thành giai cấp, là công cụ mà các giai cấp, các tầng lớp xã hội sáng lập và sử dụng với mục tiêu giành quyền lực, trực tiếp và cao nhất là quyền lực nhà nước. Trên thế giới ngày nay, tương ứng với cơ cấu giai cấp có thể có mô hình một đảng, hai đảng hoặc đa đảng, nhưng về thực chất đảng chính trị luôn mang bản chất giai cấp. Vì vậy, không thể đánh giá đảng chính trị qua hình thức mà phải nghiên cứu đánh giá từ hành động thực tế của các đảng. Theo Lênin: “Để nhận rõ được cuộc đấu tranh của các đảng, thì không nên tin ở lời nói, mà nên nghiên cứu lịch sử thực sự của các đảng, nghiên cứu chủ yếu là việc họ làm, chứ không phải những lời nói về bản thân họ, xem họ giải quyết các vấn đề chính trị như thế nào, xem thái độ họ như thế nào trong những vấn đề có liên 16 quan đến lợi ích thiết thân của các giai cấp khác nhau trong xã hội: địa chủ, tư bản, nông dân, công nhân…” [41, tr.

Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song để so với các phong trào xã hội, các tổ chức chính trị - xã hội, đảng chính trị có những đặc điểm đặc trưng: là tổ chức chính trị đại diện cao nhất cho lợi ích của giai cấp, một tầng lớp, nhóm hoặc một lực lượng cụ thể; các nhóm chính trị được tổ chức chủ yếu nhằm giành quyền lực nhà nước; tổ chức chính trị của những người đồng chính kiến, quan điểm mà trước hết về hệ tư tưởng chính trị của đảng và chính sách công. Tựu trung lại, đảng chính trị nào xét đến cùng cũng không tách rời lợi ích quốc gia, dân tộc, bởi một đảng chính trị chỉ có nền tảng để nắm quyền và thực thi quyền lực, thực hiện lợi ích giai cấp mình, khi đồng thời phải thực hiện lợi ích cộng đồng dân tộc, xã hội. Không có đảng chính trị nào tồn tại lâu dài nếu chỉ chăm lo cho lợi ích của giai cấp mình. Như vậy, Đảng chính trị là vấn đề trọng tâm của hệ thống chính trị.

Quyền lực chính trị của tự thân đảng chính trị chỉ là “quyền lực tư” của giai cấp, nhóm xã hội mà không phải là “quyền lực công”, quyền lực nhà nước. Chỉ khi đảng chính trị trở thành đảng cầm quyền, đại diện cho giai cấp thống trị xã hội mới có thể chuyển hóa quyền lực chính trị của mình thành quyền lực nhà nước và tính quyết sách đối với toàn xã hội. Trong xã hội dân chủ ngày nay, đảng chính trị phải là đảng hợp pháp, được pháp luật thừa nhận về tổ chức và phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Điểm qua một số khái niệm, với quan điểm chính trị và góc độ nghiên cứu nào thì đảng chính trị là tổ chức chính trị bao gồm những người tự nguyện, có cùng chính kiến, đại diện và bảo vệ quyền lợi của một giai cấp, một tầng lớp xã hội, hoạt động chủ yếu vì mục tiêu giành quyền lực nhà nước và sử dụng quyền lực đó nhằm thực hiện lý tưởng của giai cấp.

Đảng cầm quyền (ruling party) 17 Nghiên cứu về khái niệm “đảng cầm quyền”, cần phải phân biệt với các khái niệm “đảng lãnh đạo” hay “đảng lãnh đạo chính quyền”, vì đây là những khái niệm không đồng nhất, nên trong nghiên cứu cũng như hoạt động thực tiễn, cần nhận thức đúng và phân định rõ hoạt động lãnh đạo và cầm quyền. Để làm rõ bản chất của cầm quyền, cần nghiên cứu một số khái niệm sau: Lãnh đạo là một quá trình ảnh hưởng mang tính xã hội, trong đó lãnh đạo tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của cấp dưới nhằm đạt mục tiêu của tổ chức. Cầm quyền là nắm giữ quyền lực. Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó.

Như vây, đảng cầm quyền là khái niệm dùng để phân biệt vị thế của đảng chính trị nắm chính quyền với những đảng không nắm chính quyền, chưa giành được chính quyền, đảng không có vai trò gì đối với chính quyền… hoặc so sánh vị thế của chính đảng đó trước khi nó giành được chính quyền.Lênin thường dùng khái niệm “Đảng cầm quyền”, “Đảng chấp chính”, đến nay tiếp tục luận bàn, phát triển, bổ sung, làm phong phú, sâu sắc hơn khái niệm này. Người nhấn mạnh, sau khi giành được chính quyền, cuộc cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của ĐCS bước sang một thời kỳ mới, đó là bước chuyển biến sâu sắc từ nhiệm vụ chủ yếu là thuyết phục nhân dân và dùng lực lượng quân sự trấn áp bọn bóc lột, sang nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng và quản lý đất nước. Như vậy, đây là thời kỳ đảng cầm quyền, đảng có chính quyền, đảng tổ chức thực hiện xây dựng chủ nghĩa cộng sản, mà giai đoạn đầu là CNXH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ