Nâng cao năng lực lãnh đạo tổ chức cơ sở đảng huyện Sê Pôn, Sa Văn Na Khệt

Khóa luận tốt nghiệp về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng nông thôn huyện Sê Pôn, tỉnh Savannakhet, Lào hiện nay.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp
70
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan năng lực lãnh đạo tổ chức cơ sở đảng huyện Sê Pôn

Tổ chức cơ sở đảng giữ vị trí nền tảng trong toàn bộ hệ thống tổ chức của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Đây là hạt nhân chính trị trực tiếp lãnh đạo mọi mặt đời sống xã hội ở cơ sở nông thôn. Đề tài khóa luận tốt nghiệp tập trung làm rõ lý luận và thực tiễn về năng lực lãnh đạo tại huyện Sê Pôn, tỉnh Sa-vẳn-na-khệt. Địa bàn huyện miền núi biên giới này có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về an ninh và kinh tế. Việc củng cố tổ chức đảng tại đây quyết định trực tiếp đến hiệu quả thực thi các chủ trương lớn của Trung ương. Nghị quyết số 11 của Bộ Chính trị Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã chỉ rõ yêu cầu xây dựng tổ chức đảng vững mạnh, trong sạch và lãnh đạo toàn diện. Năng lực lãnh đạo phản ánh khả năng đề ra nghị quyết đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển. Sức chiến đấu thể hiện qua tính kỷ luật, sự đoàn kết thống nhất và tinh thần tự phê bình nghiêm túc. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học giúp cấp ủy địa phương nhận diện rõ vai trò nòng cốt của từng chi bộ bản. Đây là tiền đề để củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh.

1.1. Khái niệm và vai trò hạt nhân chính trị cơ sở

Tổ chức cơ sở đảng là cầu nối trực tiếp giữa Đảng Nhân dân Cách mạng Lào với quần chúng nhân dân. Đơn vị này tiếp thu, truyền bá và cụ thể hóa đường lối chính sách vào đời sống bản làng. Năng lực lãnh đạo thể hiện ở việc cụ thể hóa nghị quyết cấp trên phù hợp đặc thù địa bàn miền núi. Sức chiến đấu là bản lĩnh chính trị, khả năng phòng ngừa suy thoái và giữ vững kỷ cương. Một tổ chức cơ sở đảng vững mạnh giúp củng cố khối đại đoàn kết các bộ tộc Lào. Đây cũng là nhân tố quyết định việc duy trì trật tự xã hội và nâng cao đời sống dân sinh.

1.2. Đặc điểm địa bàn nông thôn miền núi huyện Sê Pôn

Huyện Sê Pôn thuộc tỉnh Sa-vẳn-na-khệt có địa hình đồi núi phức tạp và nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Đời sống kinh tế - xã hội của người dân nông thôn còn đối mặt nhiều khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo còn ở mức cao. Nhận thức chính trị và trình độ văn hóa của một bộ phận cán bộ cơ sở còn hạn chế. Các chi bộ cơ sở phân tán tại các bản vùng sâu, vùng xa biên giới. Điều kiện tự nhiên và hạ tầng giao thông cách trở tạo ra nhiều thách thức lớn cho công tác lãnh đạo. Do đó, việc xây dựng cấp ủy vững mạnh tại Sê Pôn mang tính cấp thiết chiến lược.

II. Thực trạng sức chiến đấu của tổ chức đảng nông thôn Sê Pôn

Thực tiễn công tác xây dựng Đảng tại huyện Sê Pôn, tỉnh Sa-vẳn-na-khệt thời gian qua đã ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều chi bộ bản đã lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế nông nghiệp. Cấp ủy huyện đã sắp xếp lại mạng lưới hành chính từ 158 bản xuống còn 88 bản để nâng cao hiệu lực chỉ đạo. Công tác quy hoạch cán bộ và mở rộng quỹ phát triển bản đạt giá trị hàng tỷ kíp. Tuy nhiên, chất lượng hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng vùng sâu vẫn chưa đồng đều. Một số chi bộ nông thôn còn lúng túng trong việc ban hành nghị quyết chuyên đề sát với đời sống thực tế. Năng lực cụ thể hóa chính sách thành hành động cụ thể ở cấp thôn bản còn nhiều hạn chế. Tinh thần tự phê bình và phê bình tại một số đơn vị còn hình thức, nể nang. Trình độ lý luận chính trị của đảng viên nông thôn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu đổi mới. Tình trạng thiếu hụt nguồn cán bộ kế cận có chuyên môn kỹ thuật vẫn là rào cản lớn tại các cụm bản vùng cao.

2.1. Kết quả đạt được trong lãnh đạo kinh tế và văn hóa

Các tổ chức đảng nông thôn Sê Pôn đã chỉ đạo giảm thành công 16 bản nghèo và giảm sâu số hộ nghèo. Huyện ủy đã điều động 85 cán bộ trực tiếp phụ trách các cụm bản trọng điểm. Phong trào xây dựng bản văn hóa đạt kết quả tích cực tại bản Huôi San và bản Keng Ki. Công tác truyền thông cơ sở được đẩy mạnh qua hệ thống loa truyền thanh và các kênh tin tức tỉnh Sa-vẳn-na-khệt. Cấp ủy cũng định hướng phát triển các điểm du lịch sinh thái và di tích lịch sử. Đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân từng bước được cải thiện rõ rệt.

2.2. Hạn chế về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cơ sở

Một số chi bộ vùng biên giới còn thụ động, trông chờ vào sự chỉ đạo trực tiếp của cấp trên. Trình độ học vấn của nhiều đảng viên lớn tuổi ở đơn vị cơ sở chưa qua đào tạo bài bản. Công tác quản lý đảng viên đi làm ăn xa gặp nhiều khó khăn, sinh hoạt chi bộ định kỳ chưa đều đặn. Nguyên tắc tập trung dân chủ đôi lúc bị buông lỏng, xuất hiện hiện tượng mất đoàn kết cục bộ. Khả năng tuyên truyền, vận động quần chúng xóa bỏ tập tục lạc hậu còn chậm. Năng lực dự báo và xử lý tình huống phát sinh tại cơ sở chưa thực sự nhạy bén.

III. Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo tổ chức đảng ở Sê Pôn

Để đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay, huyện ủy Sê Pôn cần thực hiện đồng bộ hệ thống giải pháp xây dựng Đảng. Nhiệm vụ hàng đầu là giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Các cấp ủy cơ sở phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cần được đổi mới theo hướng thiết thực, dễ hiểu đối với đồng bào nông thôn. Việc bồi dưỡng lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn phải gắn liền với thực tiễn sản xuất. Cần thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ bằng cách đưa các nội dung phát triển kinh tế hộ gia đình vào thảo luận. Chú trọng quy hoạch, đào tạo nguồn cán bộ trẻ và cán bộ nữ là người dân tộc thiểu số. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm ngăn chặn kịp thời các biểu hiện bè phái và suy thoái đạo đức.

3.1. Đổi mới phương thức giáo dục tư tưởng và đào tạo cán bộ

Cấp ủy huyện Sê Pôn cần mở các lớp bồi dưỡng chính trị ngắn ngày bằng tiếng dân tộc bản địa. Nội dung học tập tập trung vào kỹ năng lãnh đạo thực hành và kiến thức khuyến nông. Đẩy mạnh việc đưa cán bộ trẻ có trình độ chuyên môn về công tác tại các xã vùng sâu. Xây dựng kế hoạch kết nạp đảng viên mới gắn với phong trào đoàn kết tại bản làng. Đánh giá xếp loại tổ chức đảng phải lấy hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội làm thước đo. Việc biểu dương các chi bộ điển hình tiên tiến cần được nhân rộng toàn diện.

3.2. Củng cố nguyên tắc tổ chức và tăng cường kiểm tra giám sát

Mọi chi bộ phải duy trì nền nếp sinh hoạt định kỳ, phát huy tinh thần tự phê bình và phê bình thẳng thắn. Cấp ủy cấp trên cần thường xuyên cử ủy viên dự sinh hoạt cùng chi bộ nông thôn. Hoạt động kiểm tra, giám sát đảng viên phải được tiến hành thường xuyên để giữ vững kỷ luật Đảng. Kiên quyết xử lý các hành vi quan liêu, tiêu cực gây mất niềm tin trong nhân dân. Đồng thời, cần nâng cao vai trò giám sát của Mặt trận Lào Xây dựng đất nước và các đoàn thể cơ sở đối với cấp ủy Đảng.

IV. Ý nghĩa ứng dụng nghiên cứu tổ chức đảng nông thôn Sê Pôn

Khóa luận tốt nghiệp mang lại giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc cho công tác xây dựng Đảng tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho Ban Thường vụ Huyện ủy Sê Pôn và Tỉnh ủy Sa-vẳn-na-khệt. Các đề xuất giải pháp có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của vùng nông thôn miền núi. Việc nâng cao năng lực lãnh đạo giúp tổ chức cơ sở đảng thực hiện thắng lợi các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo. Hệ thống chính trị cơ sở vững chắc sẽ góp phần giữ vững ổn định chính trị, an ninh biên giới và trật tự an toàn xã hội. Đề tài mở ra hướng tiếp cận mới trong việc đánh giá năng lực cấp ủy gắn với kết quả phát triển cộng đồng. Đây cũng là nguồn tư liệu học thuật quan trọng phục vụ công tác giảng dạy lý luận chính trị tại các trường đảng. Nghiên cứu khẳng định vai trò quyết định của chi bộ trong sự nghiệp đổi mới toàn diện.

4.1. Giá trị tham khảo thực tiễn cho cấp ủy cơ sở

Nghiên cứu cung cấp khung tiêu chí cụ thể để các chi bộ bản tự đánh giá năng lực lãnh đạo. Cán bộ cơ sở có thể vận dụng trực tiếp các phương pháp điều hành sinh hoạt chi bộ khoa học. Các cấp ủy địa phương có căn cứ vững chắc để xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực kế cận. Đề tài giúp định hình phương thức lãnh đạo kinh tế hiệu quả, tối ưu hóa các nguồn vốn phát triển nông thôn. Sự kết nối giữa chính quyền bản và tổ chức đảng nhờ đó ngày càng trở nên chặt chẽ và nhịp nhàng hơn. Hiệu quả điều hành các phong trào thi đua tại bản làng được nâng cao rõ rệt.

4.2. Đóng góp lý luận cho công tác xây dựng Đảng ở Lào

Khóa luận làm phong phú thêm lý luận về xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong điều kiện vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Công trình khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới do Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khởi xướng. Các phát hiện nghiên cứu chứng minh mối quan hệ biện chứng giữa sức chiến đấu của Đảng và sự phát triển kinh tế địa phương. Tài liệu góp phần hoàn thiện các giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng ở cấp huyện. Đây là nền tảng vững chắc nhằm thúc đẩy các công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu tiếp theo trên phạm vi toàn quốc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Kltn nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng nông thôn huyện sê pôn tỉnh sa văn na khệt nước chdcnd lào trong giai đoạn hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG, NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG 1. Khái niệm về tổ chức cơ sở đảng Điều lệ của Đảng nhân dân Cách mạng Lào quy định: TCCSĐ là tổ chức đảng ở đơn vị cơ sở. TCCSĐ bao gồm : chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở. Đơn vị có từ 3 đảng viên chính thức đến 29 đảng viên thì lập chi bộ cơ sở; đơn bị có từ 30 đảng viên trở lên thì lập đảng bộ cơ sở, có các chi bộ trực thuộc đảng ủy; Trường hợp lập đảng bộ cơ sở trong đơn vị cơ sở chưa đủ 30 đảng viên và lập đảng bộ bộ phân trực thuộc đảng ủy cơ sở thì phải được cấp ủy cấp trên trực tiếp đồng ý” [14,34-54 ] Điều lệ Đảng thông qua tại Đại hội lần thứ VIII (2006), IX(2011) của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào tại Điều 15 chương III (2006) và Điều 23 chương V(2011) còn chỉ rõ thêm: - TCCSĐ (chi bộ cơ sở, Đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân trong hệ thống chính trị cơ sở, là nơi sinh hoạt của đảng viên, là nơi kết nạp quần chúng ưu tú vào Đảng, là nơi tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

- TCCSĐ bao gồm: Đảng bộ cơ sở,chi bộ cơ sở và chi bộ thuộc Đảng ủy cơ sở được tổ chức theo bản,cụm bản,cơ quan, nhà trường, bệnh viện, doanh nghiệp, đội ngũ cơ sở lực lượng vũ trang và đơn vị cơ sở khác có từ 3 đảng viên chính thức trở lên, lập TCCSĐ , nếu chưa đủ đảng viên chính thức 3 đồng chí thì cấp ủy cấp trên trực tiếp giới thiệu đảng viên sinh hoạt ở TCCS Đ thích hợp. -TCCSĐ dưới 30 đảng viên chính thức, lập chi bộ cơ sở, có các tổ đảng trực thuộc. - TCCSĐ có từ 30 đảng viên chính thức trở lên lập đảng bộ cơ sở, có các chi bộ trực thuộc đảng ủy. 5 - Những trường hợp sau đây, cấp ủy cấp dưới phải báo cáo và được cấp ủy cấp trên trực tiếp đồng ý mới được thực hiện: + Lập đảng bộ cơ sở trong đơn vị cơ sở chưa dủ 30 đản viên chính thức.

+ Lập chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở hơn 30 đảng viên chính thức. + Lập đảng bộ bộ phận trực thuộc đảng ủy cơ sở. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng Cay-Xỏn-Phôm-Vi-Hẳn về vị trí vai trò của tổ chức cơ sở đảng C.Mác và Ph-Ăngghen là những người đầu tiên tham gia sáng lập chính Đảng cộng sản. Trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" do Mác và Ăng ghen đã viết khởi thảo và được xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Đức năm 1848, Mác và Ăng ghen đã viết: Giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng nhất, tiến bộ nhất, có sứ mệnh giải phóng giai cấp và nhân dân lao động khỏi áp bức, bóc lột bất công, xây dựng chế độ xã hội văn minh, tiến bộ; nhưng giai cấp công nhân chỉ có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình khi tự nó thành lập ra được chính Đảng độc lập của giai cấp công nhân và đối lập với các kiểu chính Đảng tư sản khác.

Theo Mác và Ăngghen, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển đến một trình độ nhất định thì cần có một tổ chức để tập hợp, lãnh đạo cuộc đấu tranh, tổ chức đó là Đảng. Sự ra đời của Đảng cộng sản là nhằm thống nhất và lãnh đạo lực lượng đấu tranh, bảo đảm sức mạnh có tổ chức để chiến thắng. Đảng ra đời là đòi hỏi tất yếu của lịch sử, là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp. Đảng là một tổ chức chặt chẽ nhất, thống nhất cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Các cơ quan lãnh đạo của Đảng phải được bầu cử một cách dân chủ và họ có thể bị bãi miễn nếu không hoàn thành được nhiệm vụ tổ chức giao. Mọi thành viên trong Đảng đều được bình đẳng, tự do thảo luận những vấn đề sinh hoạt, tranh luận trong khuôn khổ tổ chức. Khi xác định vai trò của tổ chức cơ sở đảng trong hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng, Mác và Ăngghen viết: Nhiều chi bộ cơ sở hợp thành một công xã gồm từ ba đến hai mươi thành viên, đó là "hạt nhân " của công tác chính trị 6 của Đảng trong quần chúng lao động. Đảng phải “ Biến mỗi chi bộ của mình thành trung tâm và hạt nhân của các Đội liên hiệp công nhân, trong đó, lập trường và lợi ích của giai cấp vô sản có thể đưa ra thảo luận độc lập với những ảnh hưởng tư sản” [3,398] Trên cơ sở những tư tưởng của C.Mác và Ph-Ăngghen, trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và lãnh đạo xây dựng Đảng Bôn sê vích Nga, V.Lênin đã đưa ra thuật ngữ tổ chức cơ sở đảng lần đầu tiên tại Đại hội III.

Đảng Công nhân dân chủ- xã hội Nga. Lê nên viết “Mỗi tổ chức đảng cho tới chi bộ công nhân cơ sở của Đảng phải được xác định thành phần và nhất định phải ổn định những mối liên hệ đều đặn với Trung ương” [21,217] Tiếp đó, trong bài tiến tới thống nhất, Lênin lại nói rõ thêm: Những điều kiện khách quan đòi hỏi rằng: Những chi bộ công nhân phải làm cơ sở của Đảng.Lê nin đã khẳng định: Đảng cộng sản là đội tiên phong về chính trị có tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân, tính tiên phong về chính trị thể hiện ở chỗ Đảng được vũ trang bằng lý luận khoa học và cách mạng của Chủ nghĩa Mác- nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.Tính chặt chẽ về tổ chức được đảm bảo bằng sự phục tùng nguyên tắc tập trung dân chủ - nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Lê nin cho rằng : "Chế độ tập trung dân chủ một mặt thật khác xa với chế độ tập trung quan liêu chủ nghĩa và mặt khác thật khác xa chủ nghĩa vô chính phủ" [22,232-233]. Đây là một nguyên tắc tổ chức và hoạt động đem lại sức mạnh cho Đảng cộng sản trong cuộc đấu tranh lật đổ xã hội cũ và xây dựng Đảng xã hội mới, bảo đảm sự thống nhất từ Ban chấp hành Trung ương đến từng chi bộ và mỗi đảng viên.

Đây cũng là nguyên tắc cơ bản để phân biệt chính Đảng Cộng sản chân chính với các kiểu chính Đảng cơ hội, cải lương, vô chính phủ. Trong cuộc đấu tranh để xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân V. Lê nin hết sức coi trọng chăm lo xây dựng các tiểu tổ công nhân dân chủ - xã hội, phát triển những tiểu tổ đó trở thành những chi bộ cơ sở trong các nhà 7 máy, công xưởng, khu dân cư của Đảng Bôn Sê Vích Nga. Khi cách mạng thắng lợi.

Đứng trước những nhiệm vụ nặng nề, phức tạp của Đảng cầm quyền, tổ chức cơ sở Đảng không ngừng tăng lên về số lượng và đa dạng về nội dung hoạt động, V. Lê nin xác định rõ hơn vai trò của các tổ chức cơ sở đảng, Người nhấn mạnh: “Những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với Trung ương Đảng, phải trao đổi kinh nghiệm lẫn cho nhau, phải làm công tác cổ động, tuyên truyền, công tác tổ chức, phải thích nghi với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với tất cả mọi loại và mọi tầng lớp quần chúng lao động. Những chi bộ ấy phải thông qua công tác muôn hình muôn vẻ đó mà rèn luyện bản thân mình, rèn luyện Đảng, giai cấp, quần chúng lao động một cách có hệ thống để lãnh đạo và qua đó rèn luyện bản thân Đảng” [22,232-233] Bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng và phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của mỗi tổ chức Đảng ở cơ sở là hai mặt của một vấn đề. Một mặt, Lê nin phê phán gay gắt những biểu hiện tự do, cục bộ, tuỳ tiện ở từng tổ chức đảng địa phương và cơ sở, là nguy cơ phá vỡ tính tập trung thống nhất của tổ chức Đảng và Nhà nước Xô viết.

Người viết : “Tôi cần vạch rõ cái xu hướng không thể chối cãi được nhằm bênh vực chế độ tự trị,chống lại chế độ tập trung, là một đặc điểm có tính nguyên tắc của chủ nghĩa cơ hội trong các vấn đề tổ chức” [21,466]. Vì vậy phải đem hết sức lực để phát huy một tính chủ động lớn hơn ở cơ sở. Khi cách mạng chuyển từ thực hiện "chính sách cộng sản thời chiến " sang "chính sách kinh tế mới " là một bước đột phá lớn trong tư duy nhận thức của Đảng cầm quyền lãnh đạo kinh tế, V.Lênin cho rằng, trách nhiệm đó không chỉ của Ban chấp hành Trung ương mà của từng tổ chức cơ sở đảng và mỗi đảng viên. Chỉ tiêu cơ sở tăng cường vai trò lãnh đạo, phát huy tính chủ động sáng tạo của cơ sở thì những nhiệm vụ của Đảng Bôn sê vích và chính quyền Xô viết mới thành công.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, đã vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Hơn tám mươi năm qua, Đảng Cộng sản Việt 8 Nam đã giương cao ngọn cờ cách mạng đấu tranh kiên cường, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, giành được nhiều thắng lợi vĩ đại. Mỗi chặng đường cách mạng đều gắn liền với tên tuổi, tư tưởng và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã sáng lập và rèn luyện, xây dựng chính Đảng cách mạng kiểu mới của giai cấp công nhân Việt Nam; với sứ mệnh lịch sử vĩ đại là lãnh đạo dân tộc đấu tranh giành độc lập tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội. Người đã suốt đời chăm lo xây dựng Đảng và chỉnh đốn Đảng, quan tâm xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng.

Khi nói chuyện ở các lớp huấn luyện Đảng viên mới, Người thường căn dặn: "Để hoạt động cách mạng, thực hiện nhiệm vụ đường lối của Đảng, mỗi Đảng viên phải hoạt động trong một tổ chức cơ sở của Đảng, cho nên các cô, các chú phải hiểu rõ vai trò và nhiệm vụ của chi bộ, cố gắng góp phần của mình vào việc xây dựng chi bộ "bốn tốt". Phải hiểu về quyền hạn nhiệm vụ của mình đối với Đảng, không đi theo đường lối quần chúng của Đảng thì sẽ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng" [36,159-137].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ