Luận văn: Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng ở Trường Chính trị Hà Nam

Luận văn thạc sĩ triết học nghiên cứu thực trạng và giải pháp bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho học viên Trường Chính trị Hà Nam.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
90
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng ở Hà Nam

Thế giới quan duy vật biện chứng giữ vai trò nền tảng kim chỉ nam cho mọi hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở tại Hà Nam cần sở hữu thế giới quan vững vàng để hoạch định chính sách địa phương đúng đắn. Trường Chính trị Hà Nam là trung tâm cốt lõi thực hiện nhiệm vụ đào tạo và chuẩn hóa trình độ lý luận chính trị cho cán bộ tỉnh. Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập sâu rộng, việc trang bị thế giới quan khoa học ngày càng trở nên cấp bách. Tri thức triết học Mác - Lênin cung cấp nguyên lý khoa học giúp nhận thức quy luật phát triển khách quan. Cán bộ được bồi dưỡng đúng phương pháp sẽ củng cố bản lĩnh chính trị kiên định. Họ có khả năng phòng ngừa các biểu hiện suy thoái đạo đức và tư tưởng. Tỉnh Hà Nam sở hữu vị trí địa - chính trị quan trọng tại cửa ngõ phía Nam thủ đô Hà Nội. Sự phát triển toàn diện của tỉnh phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị. Do đó, nghiên cứu lý luận và triển khai bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho học viên mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc.

1.1. Khái niệm thế giới quan duy vật biện chứng

Thế giới quan duy vật biện chứng là hệ thống quan điểm khoa học về toàn bộ thế giới khách quan và vị trí của con người trong thế giới đó. Bản chất của thế giới quan này dựa trên sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng. Triết học Mác - Lênin khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau và thế giới vật chất vận động theo những quy luật khách quan. Đối với cán bộ lãnh đạo, thế giới quan khoa học đóng vai trò định hướng tư duy và hành động. Nó giúp người học nhận thức đúng đắn bản chất sự vật hiện tượng, bác bỏ các quan điểm duy tâm tôn giáo sai lệch. Đây là nền tảng cốt lõi xây dựng niềm tin cách mạng vững chắc.

1.2. Vai trò đào tạo tại Trường Chính trị Hà Nam

Trường Chính trị Hà Nam giữ vị trí trung tâm trong hệ thống giáo dục lý luận chính trị của tỉnh. Nhà trường đảm nhiệm công tác giảng dạy cho cán bộ từ cấp cơ sở đến các sở, ban, ngành địa phương. Việc giảng dạy triết học tại trường không chỉ truyền thụ kiến thức kinh viện thuần túy. Chương trình học tập trung rèn luyện phương pháp luận khoa học giải quyết nhiệm vụ cụ thể. Học viên sau khi tốt nghiệp cần có tư duy biện chứng linh hoạt trong xử lý công việc. Nâng cao chất lượng đào tạo tại trường là tiền đề then chốt nâng cao năng lực bộ máy chính quyền tỉnh Hà Nam.

II. Thực trạng thế giới quan duy vật biện chứng của học viên Hà Nam

Thực tiễn đào tạo tại Trường Chính trị Hà Nam ghi nhận nhiều kết quả tích cực song vẫn bộc lộ hạn chế đáng kể. Phần lớn học viên sau đào tạo đã nâng cao nhận thức chính trị và nắm vững nguyên lý triết học cơ bản. Tuy nhiên, tỷ lệ cán bộ vận dụng sáng tạo lý luận vào công tác thực tiễn chưa đạt mức kỳ vọng. Khảo sát xã hội học tại huyện Kim Bảng và Thanh Liêm chỉ ra thực trạng đáng chú ý. Hơn 20% cán bộ được điều tra còn nắm bắt kiến thức triết học mơ hồ và thiếu tính hệ thống. Khoảng 23% cán bộ chỉ ghi nhớ cục bộ các môn chuyên ngành hành chính mà bỏ quên phương pháp luận triết học. Hiện tượng giáo điều, rập khuôn sách vở vẫn tồn tại phổ biến ở một bộ phận cán bộ cơ sở. Bên cạnh đó, tác phong làm việc gia trưởng, độc đoán và tâm lý ngại đổi mới chậm được khắc phục. Đặc điểm địa lý phân hóa giữa vùng đồng chiêm trũng và miền núi đá vôi cũng ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý xã hội. Tư duy kinh nghiệm chủ nghĩa, thói quen cục bộ địa phương tiếp tục cản trở sự hình thành thế giới quan khoa học hiện đại.

2.1. Tác động của điều kiện tự nhiên và kinh tế địa phương

Địa hình Hà Nam chia rẽ rõ rệt giữa vùng núi đá vôi Kim Bảng, Thanh Liêm và vùng đồng chiêm trũng tả ngạn sông Đáy. Cư dân vùng núi xưa nay mang lối sống đơn giản nhưng dễ nảy sinh suy nghĩ duy tâm, thần bí do kỹ thuật lạc hậu. Ngược lại, người dân vùng chiêm trũng chịu ảnh hưởng của phương thức sản xuất nhỏ manh mún. Lối sản xuất này dễ hình thành tính vị kỷ, tư duy kinh nghiệm và sự bảo thủ trì trệ. Những tàn dư tâm lý xã hội truyền thống đó ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức của học viên. Đây là rào cản tự nhiên đối với việc tiếp thu tri thức duy vật biện chứng.

2.2. Hạn chế trong phương pháp giảng dạy và tiếp thu lý luận

Công tác giảng dạy triết học tại Trường Chính trị Hà Nam còn nặng tính thuyết giảng một chiều. Giảng viên ít tổ chức các buổi thảo luận chuyên sâu gắn liền với tình huống thực tiễn địa phương. Tài liệu tham khảo chưa thực sự phong phú và cập nhật thường xuyên. Về phía học viên, động cơ học tập của một số cán bộ chưa thực sự đúng đắn. Một số người đi học chỉ cốt lấy chứng chỉ để hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh. Tâm lý học đối phó dẫn đến tình trạng nhanh chóng quên kiến thức sau khi kết thúc khóa học. Sự kết hợp giữa lý luận triết học và thực tiễn cơ sở vì thế chưa đạt hiệu quả cao.

III. Giải pháp nâng cao thế giới quan duy vật biện chứng tại Hà Nam

Để nâng cao chất lượng bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng, Trường Chính trị Hà Nam cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược. Trước hết, nhà trường phải đổi mới toàn diện nội dung giáo trình theo hướng tinh gọn và thiết thực. Các bài giảng triết học cần gắn chặt với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Nam. Giảng viên cần tăng cường phương pháp dạy học tương tác, lấy người học làm trung tâm. Phương pháp giải quyết tình huống thực tế giúp học viên rèn luyện tư duy phản biện và năng lực phân tích biện chứng. Đồng thời, công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập phải chuyển trọng tâm từ kiểm tra ghi nhớ sang đánh giá năng lực vận dụng. Cán bộ học viên cần được khuyến khích viết thu hoạch gắn với đề tài thực tế của cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, việc xây dựng môi trường văn hóa học đường kỷ cương, dân chủ là yếu tố then chốt. Cán bộ giảng viên phải thực sự là tấm gương mẫu mực về phương pháp tư duy khoa học và đạo đức cách mạng.

3.1. Đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá

Nhà trường cần triệt để xóa bỏ phương pháp đọc chép thụ động trong các giờ học triết học. Giảng viên chủ động đưa các vấn đề kinh tế, văn hóa của Hà Nam vào bài giảng làm tình huống phân tích. Các buổi xê-mi-na, tranh biện và diễn án giả định cần được tổ chức thường xuyên. Hình thức thi cử cần chuyển dần sang làm bài tập lớn hoặc bảo vệ đề án công tác. Cách thức này buộc học viên phải vận dụng phép biện chứng duy vật để giải thích hiện tượng xã hội cụ thể. Nhờ vậy, tri thức triết học trở thành công cụ tư duy thực sự của cán bộ lãnh đạo.

3.2. Phát huy tính tích cực tự học và rèn luyện của học viên

Bản thân học viên phải xác định động cơ học tập đúng đắn vì sự nghiệp phát triển chung của địa phương. Mỗi cán bộ cần chủ động nghiên cứu các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Việc tự rèn luyện phương pháp tư duy khoa học phải diễn ra liên tục trong công việc hàng ngày. Học viên cần dũng cảm đấu tranh loại bỏ tư tưởng gia trưởng, độc đoán và tác phong quan liêu. Tự giác học tập kết hợp với trải nghiệm thực tiễn giúp biến tri thức lý luận thành niềm tin sâu sắc và kim chỉ nam hành động.

IV. Ý nghĩa ứng dụng thế giới quan duy vật biện chứng cho cán bộ

Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho học viên Trường Chính trị Hà Nam là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa mang tính chiến lược lâu dài. Quá trình này cung cấp nền tảng tư duy khoa học vững chắc giúp cán bộ giải quyết thấu đáo các vấn đề nảy sinh từ thực tiễn. Khi làm chủ phép biện chứng duy vật, cán bộ lãnh đạo sẽ nhìn nhận các mâu thuẫn xã hội khách quan và tìm ra giải pháp phát triển tối ưu. Đây là vũ khí tư tưởng sắc bén giúp ngăn chặn sự xâm nhập của các quan điểm sai trái, thù địch. Kết quả đào tạo lý luận chính trị góp phần trực tiếp xây dựng bộ máy chính quyền tỉnh Hà Nam liêm chính, kiến tạo và phục vụ nhân dân. Đội ngũ cán bộ có thế giới quan đúng đắn sẽ tự tin đi đầu trong công cuộc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hiện đại hóa địa phương. Việc hoàn thiện luận văn thạc sĩ về đề tài này cung cấp cơ sở khoa học giá trị cho công tác đào tạo cán bộ tại các trường chính trị cấp tỉnh trong cả nước.

4.1. Giá trị thực tiễn đối với công tác lãnh đạo cơ sở

Thế giới quan khoa học giúp cán bộ lãnh đạo cơ sở khắc phục triệt để bệnh chủ quan duy ý chí và thói quen bảo thủ. Trong quản lý điều hành, cán bộ biết tôn trọng quy luật khách quan, lắng nghe ý kiến quần chúng và xử lý linh hoạt các tình huống phát sinh. Nhận thức đúng đắn về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn giúp cán bộ ban hành các quyết định quản lý phù hợp với thực trạng địa phương. Hiệu quả công tác của cấp ủy, chính quyền cơ sở từ đó được nâng cao rõ rệt.

4.2. Định hướng phát triển công tác đào tạo lý luận trong tương lai

Trường Chính trị Hà Nam cần tiếp tục chuẩn hóa đội ngũ giảng viên lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới. Việc số hóa bài giảng và hiện đại hóa cơ sở vật chất phòng học cần được đẩy mạnh. Nhà trường nên định kỳ khảo sát chất lượng công tác của học viên sau đào tạo để kịp thời điều chỉnh chương trình giảng dạy. Mối quan hệ hợp tác học thuật giữa trường chính trị tỉnh và các học viện trung ương cần được mở rộng thường xuyên. Đó là con đường bền vững nâng tầm chất lượng bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cho tỉnh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths triết học vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho học viên trường chính trị hà nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Thế giới quan của đội ngũ cán bộ tỉnh hà nam hiện nay 1. Thế giới quan duy vật biện chứng và vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với công tác lãnh đạo, quản lý 1. Thế giới quan duy vật biện chứng Đứng trước bức tranh về thế giới (tự nhiên và xã hội) muôn hình, muôn vẻ và sinh động, con người luôn đặt ra và giải quyết những vấn đề về mối quan hệ của mình với thế giới, về nguồn gốc của thế giới, về vị trí của mình trong xã hội, về ý nghĩa cuộc sống của mình và thể hiện quan điểm, tư tưởng qua các lý thuyết xã hội. Đó chính là sự lựa chọn và định hướng cuộc sống, tức là sự thể hiện thế giới quan của mình.

Thuật ngữ "thế giới quan" xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XVIII do nhà triết học cổ điển Đức là Cantơ nêu ra. Từ đó, nó được sử dụng rộng rãi trong các tác phẩm của các nhà triết học sau này. Đặc biệt, với sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin, khái niệm thế giới quan đã phát triển lên một tầm cao mới mang tầm vóc lớn lao. Thế giới quan nào ra đời cũng đều nhằm giải quyết ba vấn đề cơ bản sau: - Thế giới mà con người đang sống là gì? - Trong thế giới đó con người sống vì cái gì và sống như thế nào? - Khả năng con người tác động lại thế giới ra sao? Trả lời những câu hỏi đó, thế giới quan đã vạch ra được mối quan hệ giữa con người với thế giới và xác định vị trí con người trong thế giới đó.

7 Thế giới quan được hình thành và phát triển trong xã hội dưới hai hình thức: Thứ nhất: Thế giới quan là một nhân tố của ý thức cá nhân, giữ vai trò chỉ dẫn cách thức tư duy và hành động của cá nhân, đó là thế giới quan cá nhân. Thế giới quan cá nhân thường là sự tích lũy và thu thập kinh nghiệm sống của mọi người. Nó nằm trong suy nghĩ và hành vi của họ mà chính họ cũng không biết rằng cái được gọi là kinh nghiệm sống hay sự hiểu biết về bức tranh chung của thế giới đó là thế giới quan cá nhân. Nó chính là mức độ thấp trong nhận thức thế giới.

Tuy nhiên, không nên đánh giá thấp tác dụng của nó với tính cách là một nhân tố điều chỉnh hành động của con người. Tác động của giáo dục, ảnh hưởng của truyền thống, của các quan hệ xã hội, các điều kiện và hoàn cảnh môi trường sống là nhân tố quan trọng hình thành các quan điểm và nguyên tắc thế giới quan cá nhân. Thứ hai: Thế giới quan là sự thể hiện dưới hình thức lý luận khái quát hóa các quan điểm và hoạt động của một nhóm xã hội, một giai cấp hay toàn xã hội. Đó là thế giới quan xã hội.

Các nhà triết học, kinh tế học, xã hội học hay các nhà tư tưởng, chính trị. luôn suy nghĩ, cân nhắc để xây dựng thế giới quan xã hội. Nhiệm vụ của họ là phải làm thế nào để thể hiện một cách đầy đủ nhất những nguyên lý tư tưởng lý luận, nguyên lý triết học nhằm chỉ dẫn suy nghĩ và hành động của con người, của một nhóm xã hội, một giai cấp hay toàn xã hội. Hai loại thế giới quan trên luôn nằm trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau.

Mỗi cá nhân đều luôn mong muốn làm phong phú tri thức của mình bằng cách tiếp nhận những lý luận chung để làm sáng tỏ vị trí của mình trong thế giới, trong đời sống xã hội. Ngược lại, những quan điểm thế giới quan xã hội, lý luận chung ấy trở thành một bộ phận trong ý thức và niềm tin của các cá nhân, thẩm thấu vào ý thức cá nhân, được hình thành một cách tự phát rồi tác động và chỉ dẫn nó. 8 Dù ở trình độ phát triển nào các quan điểm về thế giới quan cũng đều mang tính khái quát. Thế giới quan là sự phản ảnh chủ quan những điều kiện sinh hoạt vật chất của con người.

Tuy nhiên, thế giới quan không chỉ dừng lại ở sự phản ánh thụ động đó, mà nó còn là nhân tố tích cực của con người, sự thông thái về cuộc sống để chỉ dẫn cho nhận thức lẫn hành động của con người. Bởi vì, chính hành vi và hoạt động của con người đã đặt ra các vấn đề như: liệu nhận thức có đáp ứng những mục đích sống đã được con người lựa chọn và con đường thực hiện những mục đích ấy có tuân theo những quy luật phát triển của thế giới khách quan hay không? Liệu quan hệ giữa tri thức con người với thực tiễn cải tạo thế giới khách quan, cải tạo chính bản thân mình có tương ứng với những đòi hỏi và những khuynh hướng phát triển hợp quy luật của hiện thực hay không? Và bằng cách nào mà tư duy và hành động của mình, con người có thể thể hiện sự thống nhất giữa mình và thế giới, hiểu được tương lai, triển vọng của mình? Khi trả lời những câu hỏi đó, thế giới quan đã thể hiện chức năng, định hướng lớn lao của mình. Trong lịch sử tư tưởng làm người đã có nhiều định nghĩa khác nhau về thế giới quan, chẳng hạn, G-Gertx đã cho rằng: "Chúng tôi hiểu thế giới quan như một hệ thống nhất định những lời giải đáp những vấn đề về cội nguồn của thế giới và nguồn gốc, về ý nghĩa cuộc sống và đặc trưng của tiến bộ xã hội" [16, tr. Hoặc trong cuốn Từ điển Tiếng Việt, Minh Tâm đã định nghĩa: "Thế giới quan là hệ thống những quan điểm mang tính khái quát về thế giới nói chung, về những quy trình tự nhiên và xã hội được thực hiện trong thế giới đó, về mối quan hệ của con người đối với hiện thực xung quanh" [39, tr.

Chúng tôi nhận thấy các định nghĩa trên đều đúng, nhưng bao quát và rõ hơn cả là theo cách định nghĩa của Akitốp, bởi vì trong định nghĩa này, ông đã nêu nên, các yếu tố nhận thức và giá trị, yếu tố khách quan và chủ quan thống nhất chặt chẽ với nhau, các tri thức của khoa học về thế giới hòa với niềm tin của con người. Ông viết: "Tổng hợp tất cả những quan niệm, chính 9 kiến về thế giới, về cấu trúc và nguồn gốc của nó, ý nghĩa và giá trị của đời sống con người, lòng tin của con người trong hiện thực gọi là thế giới quan" [1, tr. Từ những quan niệm trên đây, có thể hiểu: Thế giới quan là hệ thống những quan điểm của một chủ thể (có thể là của một người, một tập đoàn người, một giai cấp hay toàn xã hội) về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trước thế giới. Trên cơ sở đó, thế giới quan định hướng, chỉ dẫn cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.

Về cấu trúc của thế giới quan bao gồm một số nhân tố cơ bản sau đây: Tri thức: Cũng giống ở mọi ý thức xã hội, thế giới quan bao gồm những tri thức về tự nhiên, xã hội, con người. Những tri thức mang tính khái quát về các hiện tượng tự nhiên, về mối quan hệ nền tảng, bản chất của tự nhiên, tạo thành quan điểm về tự nhiên của thế giới quan. Các tri thức tự nhiên đó quy định lập trường của con người trong thế giới, chỉ rõ người theo chủ nghĩa vô thần hay duy tâm, tôn giáo; biện chứng hay siêu hình. Những tri thức về cuộc sống của con người, về sự phát triển xã hội, về quan hệ của con người đối với xã hội tạo thành quan điểm xã hội của thế giới quan.

Những tri thức hệ thống khái quát về bản chất của quá trình hoạt động nhận thức của con người tạo thành quan điểm nhận thức luận của thế giới quan. Rõ ràng, việc xác định bản chất của thế giới quan cần dựa trên phương diện bản thể luận lẫn phương diện nhận thức luận. Tri thức là điều kiện cần thiết cơ bản cho việc hình thành thế giới quan, nhưng không phải bất kỳ tri thức nào về tự nhiên, xã hội, về con người đều là tri thức thế giới quan. 10 Chỉ có những tri thức biểu thị quan điểm chung về tồn tại và về nhận thức mới là những tri thức của thế giới quan.

Trong nội dung tri thức của thế giới quan, các quan điểm của triết học đóng vai trò là nền tảng của mọi thế giới quan ở các giai đoạn phát triển của nó vì triết học phản ánh các quan điểm chung nhất về thế giới. Niềm tin: Niềm tin là một trạng thái tâm lý, tinh thần đặc biệt được phát triển trên cơ sở của tri thức. Nó là động lực thúc đẩy khát vọng nhận thức và cải tạo hiện thực của con người. Niềm tin là những tư tưởng chi phối chặt chẽ tư tưởng, chỉ dẫn hành động của con người tuân theo và ràng buộc trí tuệ, lương tâm của con người với chúng.

Nếu con người làm việc gì đó mà không có niềm tin vào sự đúng đắn của tri thức, của tư tưởng thì con người sẽ bị mất đi những rung động của ý chí, nghị lực, lòng nhiệt tình và sự cổ vũ cần thiết đối với hiệu quả công việc. Không có tâm hồn nóng bỏng của niềm tin vào tri thức thì sẽ không sản sinh ra cái gì vĩ đại cả. Vì niềm tin giúp cho con người có nghị lực phi thường vượt qua những giây phút hiểm nghèo, giám hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng mà mình cho là cao cả. Như thế, niềm tin là yếu tố cấu thành quan trọng của thế giới quan.

Nếu nó được xác lập trên nền tảng tri thức khoa học thì nó sẽ thúc đẩy xã hội phát triển. Lý tưởng: Trong thế giới quan, cùng với tri thức và niềm tin thì lý tưởng là yếu tố định hướng cực kỳ quan trọng. Lý tưởng như là hình mẫu, mục tiêu tối thượng về một cái gì đó của một cá nhân, nhóm người, giai cấp hay toàn xã hội muốn vươn tới hiện thực. Lý tưởng là một hình thức tư tưởng được xác lập trên cơ sở tri thức và niềm tin của một giai cấp trong toàn xã hội đặt ra nhằm định hướng hoạt động 11 cho mọi thành viên trong xã hội thực hiện mục đích của mình, nhằm cải tạo thế giới "đang có" thành thế giới "phải có".

Lý tưởng mang tính lịch sử về bản chất, nó có thể tiến bộ hay lạc hậu tùy thuộc vào hình thái của các mối quan hệ xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ