Luận văn thạc sĩ Triết học: Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại TP Vinh

Luận văn thạc sĩ triết học nghiên cứu thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại TP Vinh. Phân tích thực trạng, các vấn đề đặt ra và đề xuất giải pháp.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
119
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại thành phố Vinh

Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực then chốt của sự nghiệp xây dựng đất nước. Chỉ thị 30-CT/TW và Nghị định 29/NĐ-CP đã đặt nền móng pháp lý vững chắc cho việc thực thi quyền làm chủ của nhân dân tại cấp xã, phường. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở bảo đảm quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân. Phương châm cốt lõi gồm bốn nội dung cơ bản: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Tại thành phố Vinh, việc triển khai quy chế này gắn liền với quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế nhanh chóng. Thành phố Vinh giữ vị trí trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của khu vực Bắc Trung Bộ. Yêu cầu đổi mới phương thức quản lý hành chính đòi hỏi chính quyền các cấp phải minh bạch mọi chủ trương, chính sách. Việc nghiên cứu lý luận triết học về dân chủ cơ sở giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa nhà nước và công dân trong thời kỳ đổi mới. Điều này khẳng định tầm quan trọng của việc tôn trọng quyền con người và quyền công dân tại địa phương.

1.1. Khái niệm và bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa

Dân chủ xã hội chủ nghĩa phản ánh bản chất giai cấp công nhân và quyền lực của nhân dân lao động. Đây không chỉ là một hình thức tổ chức nhà nước mà còn là giá trị nhân văn sâu sắc. Dân chủ ở cơ sở là cấp độ trực tiếp nhất của nền dân chủ xã hội. Mọi quyết định liên quan đến đời sống nhân dân đều cần được công khai minh bạch. Quyền làm chủ của người dân được thể chế hóa qua hệ thống pháp luật, nghị định của chính phủ. Khi người dân nắm rõ thông tin, tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng sẽ tăng cao. Dân chủ cơ sở là thước đo thực tế của nền quản trị hiện đại.

1.2. Đặc điểm kinh tế và xã hội tại thành phố Vinh

Thành phố Vinh có vị trí địa lý chiến lược tại khu vực Bắc Trung Bộ với quy mô dân số phát triển nhanh. Quá trình đô thị hóa tạo ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế nhưng cũng đặt ra thách thức về mặt quản lý xã hội. Đời sống văn hóa của cư dân địa phương gắn liền với truyền thống yêu nước và tinh thần tự quản cộng đồng. Cấu trúc dân cư đa dạng đòi hỏi các cấp chính quyền phải linh hoạt trong phương thức lãnh đạo. Việc thực thi quy chế dân chủ tại các phường xã tạo môi trường thuận lợi để huy động nguồn lực xã hội. Người dân tích cực đóng góp công sức vào xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị.

II. Thực trạng thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại thành phố Vinh

Thực tiễn triển khai quy chế dân chủ tại thành phố Vinh ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động. Toàn bộ 100% phường, xã và khối xóm đã hoàn thành công tác phổ biến các văn bản chỉ đạo của Trung ương. Đa số cán bộ, đảng viên đã phát huy vai trò hạt nhân chính trị nòng cốt tại cơ sở. Các buổi tiếp xúc cử tri, đối thoại nhân dân được tổ chức định kỳ và nghiêm túc. Tinh thần tự giác tham gia các phong trào thi đua yêu nước lan tỏa rộng khắp trong quần chúng. Tuy nhiên, quá trình thực hiện vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế đáng lưu ý. Một bộ phận người dân còn biểu hiện thờ ơ, thiếu quan tâm đến công việc chung của địa phương. Tỷ lệ người dân thực sự nắm vững nội dung quy chế dân chủ mới đạt mức trung bình khá. Một số cán bộ cơ sở còn lúng túng trong phương pháp làm việc và xây dựng chương trình hành động. Tình trạng quan liêu, hành chính hóa hoạt động dân chủ vẫn xuất hiện rải rác ở một số địa bàn.

2.1. Kết quả đạt được trong việc mở rộng dân chủ trực tiếp

Chính quyền các cấp tại thành phố Vinh đã thực hiện nghiêm túc công tác công khai tài chính và quy hoạch đất đai. Các khoản đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng được nhân dân bàn bạc kỹ lưỡng trước khi triển khai. Ban thanh tra nhân dân và ban giám sát đầu tư cộng đồng phát huy hiệu quả thực tế. Tình trạng khiếu nại vượt cấp giảm dần theo thời gian. Mối quan hệ gắn kết giữa chính quyền cơ sở và nhân dân được củng cố vững chắc. Người dân chủ động tham gia giám sát các công trình phúc lợi xã hội tại khu dân cư. Ý thức làm chủ tập thể của cán bộ và nhân dân từng bước được nâng cao.

2.2. Những khó khăn và hạn chế trong quá trình thực thi

Một số cấp ủy và chính quyền cơ sở tại thành phố Vinh vẫn coi nhẹ việc thực hiện quy chế dân chủ. Công tác tuyên truyền tại một vài địa bàn còn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu. Số lượng người dân tham gia các buổi phổ biến pháp luật chưa đạt mức tối đa. Đội ngũ cán bộ cơ sở thiếu kỹ năng xử lý các tình huống phức tạp phát sinh từ đời sống. Chế độ đãi ngộ cho cán bộ làm công tác mặt trận và đoàn thể còn thấp. Việc giải quyết các kiến nghị chính đáng của nhân dân đôi khi còn chậm trễ. Hoạt động kiểm tra, giám sát từ cấp trên chưa được tiến hành thường xuyên và triệt để.

III. Giải pháp thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại thành phố Vinh

Để nâng cao chất lượng thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại thành phố Vinh, cần áp dụng hệ thống giải pháp đồng bộ. Trước hết, cấp ủy đảng phải tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên. Việc nâng cao phẩm chất đạo đức công vụ giúp đẩy lùi nạn tham nhũng, cửa quyền và sách nhiễu nhân dân. Song song đó, các cơ quan chức năng cần đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền pháp luật đến từng hộ gia đình. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hành chính giúp công khai quy hoạch và tài chính nhanh chóng. Cần kiện toàn bộ máy thanh tra nhân dân nhằm nâng cao năng lực giám sát độc lập. Chính quyền thành phố phải xây dựng cơ chế đối thoại định kỳ, giải quyết triệt để các khiếu nại phát sinh từ cơ sở. Đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể là yêu cầu cấp thiết. Mọi chương trình hành động đều phải hướng tới lợi ích thiết thực của nhân dân.

3.1. Đào tạo và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở

Chính quyền thành phố Vinh cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn thường xuyên cho đội ngũ cán bộ phường, xã. Nội dung đào tạo tập trung vào kỹ năng dân vận, nghiệp vụ quản lý nhà nước và kỹ năng giao tiếp cộng đồng. Cán bộ cơ sở phải là tấm gương mẫu mực về tính tiên phong và tinh thần phụng sự nhân dân. Cần kiên quyết xử lý nghiêm các biểu hiện quan liêu, vô cảm trước nguyện vọng của quần chúng. Việc đánh giá xếp loại cán bộ hàng năm phải lấy mức độ hài lòng của nhân dân làm tiêu chí quan trọng. Tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ trẻ tiếp cận phương pháp quản trị hiện đại.

3.2. Đổi mới hình thức tuyên truyền và tăng cường giám sát

Công tác tuyên truyền quy chế dân chủ cần được đa dạng hóa qua hệ thống loa truyền thanh, hội nghị khu dân cư và mạng xã hội. Thông tin về các dự án xây dựng hạ tầng, nguồn vốn đóng góp phải được niêm yết công khai tại nhà văn hóa khối xóm. Phát huy tối đa vai trò phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể địa phương. Củng cố tổ chức và nâng cao chế độ bồi dưỡng cho thành viên Ban thanh tra nhân dân. Định kỳ tổ chức các đợt kiểm tra việc thực hiện dân chủ tại từng cơ sở. Khen thưởng kịp thời các tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến.

IV. Đánh giá việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại thành phố Vinh

Đề tài luận văn thạc sĩ triết học đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện lý luận về dân chủ cơ sở. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng dân chủ chỉ thực sự phát huy tác dụng khi gắn liền với kỷ cương pháp luật. Tại thành phố Vinh, việc phát huy dân chủ cơ sở đã thúc đẩy kinh tế phát triển và ổn định trật tự xã hội. Mối quan hệ giữa đảng cầm quyền, chính quyền đô thị và nhân dân được làm sâu sắc dưới góc nhìn triết học chính trị. Các kết luận nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách địa phương. Mô hình thực tiễn tại thành phố Vinh cung cấp bài học kinh nghiệm bổ ích cho các đô thị khác trong cả nước. Việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế dân chủ là tiền đề xây dựng chính quyền phục vụ kiến tạo phát triển.

4.1. Đóng góp lý luận cho chuyên ngành triết học chính trị

Nghiên cứu làm phong phú thêm kho tàng lý luận về chủ nghĩa cộng sản khoa học trong thời kỳ đổi mới. Tác phẩm làm rõ sự vận động biện chứng giữa quyền làm chủ của nhân dân và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Thực tiễn dân chủ tại cơ sở khẳng định tính ưu việt của mô hình quản trị xã hội chủ nghĩa. Các phạm trù triết học về quyền lực chính trị và công bằng xã hội được kiểm chứng qua thực tiễn địa phương. Đề tài mở ra hướng tiếp cận mới trong việc nghiên cứu hành vi chính trị của cư dân đô thị. Công trình đóng góp tài liệu học thuật giá trị cho các nghiên cứu sinh và học viên cao học.

4.2. Giá trị ứng dụng trong quản trị đô thị hiện đại

Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền thành phố Vinh hoàn thiện quy chế làm việc. Các khuyến nghị giải pháp giúp củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và ổn định trật tự an toàn xã hội. Chính quyền các phường xã có thêm căn cứ để xây dựng chương trình tiếp dân và giải quyết khiếu nại minh bạch. Các tổ chức đoàn thể có thể áp dụng mô hình giám sát cộng đồng vào thực tiễn quản lý dự án công cộng. Việc phát huy dân chủ cơ sở tạo động lực to lớn thúc đẩy quá trình hiện đại hóa đô thị. Đây là nền tảng vững chắc để xây dựng thành phố Vinh văn minh, giàu đẹp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths triết học thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn thành phố vinh những vấn đề đặt ra và giải pháp

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu của sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Quan điểm lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế nhằm giải phóng lực lượng sản xuất; đổi mới nội dung và phương pháp lãnh đạo của Đảng trên cơ sở nắm vững nguyên tắc, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu những thành tựu văn minh nhân loại, bảo đảm quá trình đổi mới diễn ra đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Bởi vậy, trên thực tế, quyền làm chủ của nhân dân đã từng bước được khơi dậy và phát huy. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng với việc thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã nhấn mạnh: "Xã hội mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ", và "Toàn bộ tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân" [7, 19], "Thực hiện dân chủ XHCN là thực 16 chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị.

Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới" [6, 90]. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996), tiếp tục khẳng định "Xây dựng nền dân chủ XHCN là một nội dung cơ bản của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta. Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện, làm chủ trực tiếp và các hình thức tự quản tại cơ sở" [8, 43].

Việc ban hành Chỉ thị 30 CT/TW của Bộ Chính trị và Nghị định 29 NĐ/CP (năm 1998) là sự cụ thể hóa quan điểm đó của Đảng và Nhà nước ta Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IXcủa Đảng (4/2001), được xem là đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết và đổi mới. Tại Đại hội này, nội dung dân chủ lại càng được coi trọng. Dân chủ đã được đặt trong những mục tiêu của con đường đi lên CNXH ở nước ta, đó là: "độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" [12, 22]. Như vậy, nội dung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân luôn là nội dung quan trọng và nhất quán trong toàn bộ đường lối cách mạng của Đảng ta từ trước tới nay, và được phát triển, nâng cao thêm qua các giai đoạn cách mạng.

Dân chủ gắn liền với "dân sinh", "dân trí"; dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng nói chung, của công cuộc đổi mới nói riêng. Qua hơn 15 năm đổi mới, thực hiện các Nghị quyết của Đảng, quyền làm chủ của nhân dân đã được phát huy thêm một bước; nhờ vậy mà tiềm năng to lớn về vật chất, tinh thần và trí tuệ của nhân dân được khơi dậy. Dân chủ đã đem lại cho nhân dân không phải những giá trị dân chủ trừu tượng, mà bằng những kết quả cụ thể trên nhiều lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội. Dân chủ đã trở thành nhu cầu khách quan đi liền với yêu cầu của nền kinh tế 17 thị trường, là yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; dân chủ cũng là vấn đề nhạy cảm, hết sức phức tạp.

Trong những năm qua, mặc dầu đã có những thành tựu nhất định. Song, "quyền làm chủ của nhân dân vẫn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu dân vẫn diễn ra phổ biến và nghiêm trọng. Đây là nguy cơ lớn của Đảng cầm quyền. Quan liêu và tham nhũng làm xói mòn bản chất cách mạng của Đảng, của Nhà nước, đục ruỗng bộ máy tổ chức, làm suy thoái đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức về đạo đức và chính trị, phá hoại mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân" [35, 4].

Phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hóa thành pháp luật, thành cơ chế, chế độ nên chậm đi vào cuộc sống. Vì vậy, chỉ có mở rộng dân chủ XHCN, phát huy sức mạnh quyền làm chủ của nhân dân, chống tiêu cực, chống suy thoái, chống tham nhũng, củng cố Đảng, làm trong sạch bộ máy nhà nước, lành mạnh hóa các quan hệ xã hội. mới có thể tạo động lực to lớn xây dựng và phát triển đất nước. Nhận thức được những vấn đề trên, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, của các tổ chức chính trị xã hội.

Việc thực hiện dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân được tiến hành dưới nhiều cấp độ, nhiều hình thức. Trong đó, thực hiện dân chủ ở cơ sở nói chung, ở phường, xã nói riêng là vấn đề hết sức quan trọng; có ý nghĩa vừa cấp bách, vừa lâu dài. Thực hiện dân chủ ở xã, phường - nội dung quan trọng của dân chủ XHCN ở nước ta 1. Vị trí, vai trò của xã, phường Xã, phường là đơn vị hành chính cơ sở của nhà nước, là cấp trực tiếp nhất, gần dân nhất.

Ngày nay, hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: "Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương - Tỉnh chia 18 thành huyện, thành phố trực thuộc tỉnh và thị xã. Thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã. Huyện chia thành xã, thị trấn. Thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã.

Quận chia thành phường" [20, 184]. Trong bốn cấp chính quyền của bộ máy nhà nước, chính quyền phường, xã là cấp cơ sở; là nền tảng của xã hội, là nơi đông đảo nhân dân sinh sống; là nơi nhân dân thực hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi nhằm giải quyết các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư, bảo đảm đoàn kết, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và vệ sinh môi trường; là nơi nhân dân sản xuất, kinh doanh, lao động, học tập; xã, phường cũng là nơi nảy sinh nhiều yêu cầu bức xúc hàng ngày của các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội; cũng là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; Do vậy, cũng là nơi nhân dân đang có nhiều đòi hỏi về quyền làm chủ; nơi diễn ra sự tiếp xúc và thể hiện các mối liên hệ đan chéo nhau như: Đảng với dân, dân với dân, các tổ chức, các đơn vị kinh tế, xã hội với dân. Các phong trào hành động cách mạng của quần chúng, cũng như các vấn đề dân sinh, dân chủ, dân an đều thể hiện rõ nhất ở xã, phường. Hồ Chí Minh khẳng định: "Nền tảng của mọi công tác là cấp xã" và "Cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính.

Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi" [29, tr. Vai trò của xã, phường là rất quan trọng. Do vậy yêu cầu là phải thấy được điểm giống và khác nhau của hai loại hình xã và phường, có như vậy, việc chỉ đạo, Tổ chức thực hiện mới có hiệu quả. Điểm giống nhau cơ bản là: Xã, phường đều là đơn vị hành chính cấp cơ sở, là nền tảng xã hội.

Cơ cấu tổ chức, thiết chế xã hội của hệ thống chính trị xã, phường đều giống nhau. Vị trí, vai trò xã, phường đều quan trọng đối với sự hưng vọng của quốc gia dân tộc. Điểm khác nhau cũng rất nhiều, song chủ yếu trên các lĩnh vực sau: 19 Về dân cư: Dân cư trên địa bàn xã chủ yếu là nông dân, họ sống gắn bó với nhau qua nhiều đời, nhiều thế hệ. Quan hệ chủ yếu là dòng họ, huyết thống, tình làng nghĩa xóm.

Do vậy, dân cư ở đây thuần hơn. Còn cư dân trên địa bàn phường chủ yếu được tạo lập do quan hệ công tác, do nhu cầu vể nhà ở, nơi cư trú. Ngoài cư dân sống ổn định, thì một số lượng lớn tạm trú, hoặc sống tạm bợ không đăng ký. Hơn nữa, ở phường, do cơ cấu nghề nghiệp đa dạng nên cơ cấu dân cư cũng đa dạng và phức tạp hơn.

Nếu như ở địa bàn xã, nông dân là chủ yếu; thì ở phường vừa có công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức, có cả bộ phận tư sản, tiểu tư sản; có cả sinh viên, bộ đội, có cả các nhà quản lý, lãnh đạo của nhiều cấp, nhiều ngành. Về tâm lý: Địa bàn xã chủ yếu là nông dân nên tâm lý tiểu nông nhỏ mọn, dễ dao động, ngả nghiêng. Họ nhìn nhận lợi ích một cách sát thực, cụ thể, đặc biệt là lợi ích kinh tế trước mắt. Hơn nữa, ở địa bàn xã, tâm lý bảo thủ, cục bộ, nể nang, xuôi chiều là phổ biến.

Còn ở địa bàn phường, do cư dân phức tạp, nên diễn biến tâm lý cũng phức tạp hơn. Con người thường phải "gượng gạo" chấp nhận nhau theo kiểu "bán anh em xa, mua láng giềng gần". Về đội ngũ cán bộ: Trên địa bàn xã, cán bộ còn nhiều bất cập. Những người có trình độ cao đẳng, đại học chưa nhiều, tính bảo thủ, trì trệ còn nặng.

Yếu tố dòng họ, làng xóm chi phối lớn. Thậm chí có lúc vai trò "già làng", "trưởng tộc" lấn át chính quyền. Ngược lại, ở phường đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị cao hơn; sự giao lưu của họ cũng rộng hơn. Nhưng vai trò của họ có sự khác hơn so với ở xã.

Nếu như ở xã, đội ngũ cán bộ chịu trách nhiệm quản lý điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội - như là Nhà nước thu nhỏ, thì ở phường cũng vậy, song vai trò quản lý hành chính, quản lý cư dân nổi bật hơn. Còn vai trò trong quản lý, điều hành chuyên môn, nghiệp vụ, về lao động sản xuất lại chủ yếu phụ thuộc vào các cơ quan, doanh nghiệp. 20 Việc nhìn nhận được những điểm khác nhau cơ bản giữa xã và phường sẽ tạo điều kiện thực hiện QCDC cơ sở một cách sát thực, hiệu quả hơn; vị trí của xã, phường đối với phát huy quyền làm chủ của nhân dân càng cao hơn. Thực hiện dân chủ ở xã, phường cũng sẽ góp phần thúc đẩy cải cách hành chính, sửa đổi những cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính sao cho sát thực, phù hợp với thực tiễn cuộc sống hàng ngày.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ