Luận văn: Phát huy nhân tố con người trong CNH, HĐH nông nghiệp Nghệ An

Luận văn thạc sĩ triết học nghiên cứu vai trò và giải pháp phát huy nhân tố con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Nghệ An.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
114
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan phát huy nhân tố con người trong CNH HĐH nông thôn

Nhân tố con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển. Mọi nguồn lực tự nhiên hay công nghệ kỹ thuật đều cần sức lao động và trí tuệ con người để phát huy giá trị. Triết học Mác - Lênin khẳng định con người là chủ thể sáng tạo ra toàn bộ của cải vật chất và đời sống tinh thần. Nông thôn Việt Nam có phần lớn dân cư sinh sống và làm việc. Do đó, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn mang tính cấp thiết hàng đầu. Quá trình công nghiệp hóa đòi hỏi lực lượng lao động phải có trình độ chuyên môn cao. Người nông dân cần nhanh chóng thích ứng với tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại. Phát triển nhân tố con người giúp khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai và tài nguyên địa phương. Đồng thời, quá trình này thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững. Nhà nước cần xây dựng chính sách hợp lý nhằm giải phóng năng lực sáng tạo của người lao động.

1.1. Quan niệm triết học về vai trò động lực của con người

Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, con người là tổng hòa các quan hệ xã hội. Con người đóng vai trò động lực trực tiếp tạo nên mọi biến đổi lịch sử. Trong hoạt động sản xuất vật chất, sức lao động là yếu tố tích cực và năng động nhất. Mọi phương tiện máy móc chỉ phát huy tác dụng thông qua bàn tay và khối óc của người lao động. Khi người lao động có tri thức và kỹ năng, năng suất lao động xã hội sẽ tăng trưởng vượt bậc. Việc phát huy động lực con người đòi hỏi phải kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng. Động lực kinh tế và tinh thần giữ vai trò kích thích tính tự giác sáng tạo trong lao động sản xuất nông thôn.

1.2. Tính tất yếu của CNH HĐH nông nghiệp nông thôn Việt Nam

Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Phần lớn lực lượng lao động xã hội tập trung tại khu vực nông thôn. Do đó, công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn là nhiệm vụ có tính quy luật khách quan. Quá trình này giúp thay đổi phương thức sản xuất thủ công sang cơ giới hóa hiện đại. Năng suất lao động nông nghiệp tăng lên sẽ giải phóng sức lao động dư thừa. Lực lượng lao động mới chuyển dịch sang phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Nền kinh tế nông thôn từng bước hòa nhập vào thị trường trong nước và quốc tế. Sự chuyển dịch này tạo tiền đề vật chất quan trọng để nâng cao đời sống dân sinh.

II. Thực trạng nguồn lực con người tại nông thôn Nghệ An hiện nay

Nghệ An là tỉnh có diện tích rộng lớn và quy mô dân số đông đúc. Nguồn lao động tại nông thôn Nghệ An dồi dào, cần cù và giàu truyền thống hiếu học. Người dân địa phương sở hữu ý chí vượt khó và tinh thần đoàn kết cao. Những phẩm chất văn hóa truyền thống này tạo thuận lợi lớn cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực nông thôn Nghệ An vẫn còn nhiều hạn chế. Trình độ học vấn và tay nghề chuyên môn kỹ thuật của đa số nông dân chưa cao. Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề còn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu lao động. Thói quen sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và tư duy kinh nghiệm truyền thống chậm thay đổi. Năng suất lao động tại khu vực nông nghiệp còn ở mức thấp. Sức ép giải quyết việc làm cho lao động dôi dư tại chỗ ngày càng gia tăng. Chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp chưa đạt tốc độ kỳ vọng. Đời sống vật chất của một bộ phận người dân vùng sâu vùng xa vẫn còn nhiều khó khăn.

2.1. Ưu thế về truyền thống văn hóa và phẩm chất con người xứ Nghệ

Người dân Nghệ An nổi tiếng với truyền thống hiếu học, kiên cường và trung thực. Tinh thần dám nghĩ dám làm và ý chí tự lực cánh sinh luôn được phát huy qua nhiều thế hệ. Tính cộng đồng làng xã gắn bó keo sơn tạo nên sức mạnh đoàn kết to lớn trong lao động. Nông dân Nghệ An luôn sẵn sàng tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật mới vào canh tác nông nghiệp. Ý chí vượt khó giúp người lao động chống chọi với điều kiện thiên tai khắc nghiệt của miền Trung. Những giá trị tinh thần này tạo nền tảng vững chắc để chuyển hóa thành nguồn lực kinh tế mạnh mẽ trong thời kỳ đổi mới.

2.2. Hạn chế về trình độ chuyên môn và tác phong lao động công nghiệp

Nguồn nhân lực nông thôn Nghệ An còn đối mặt với nhiều rào cản nội tại. Trình độ học vấn trung bình của lực lượng lao động nông nghiệp còn hạn chế. Tỷ lệ nông dân được đào tạo bài bản qua các trường dạy nghề còn thấp. Thói quen lao động tùy tiện và kỷ luật lao động chưa nghiêm ngặt gây khó khăn cho dây chuyền sản xuất công nghiệp. Tư duy sản xuất tiểu nông mang nặng tính mùa vụ và thiếu liên kết chuỗi giá trị. Việc áp dụng công nghệ cao vào canh tác nông nghiệp còn chậm và thiếu đồng bộ. Tình trạng thừa lao động phổ thông nhưng thiếu lao động kỹ thuật cao diễn ra phổ biến.

III. Giải pháp phát huy nhân tố con người nông nghiệp tại Nghệ An

Để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, Nghệ An cần thực hiện đồng bộ hệ thống giải pháp. Trọng tâm hàng đầu là đổi mới căn bản công tác giáo dục và đào tạo nghề nông thôn. Tỉnh cần mở rộng các lớp tập huấn kỹ thuật chuyển giao công nghệ sinh học và cơ giới hóa nông nghiệp. Đào tạo gắn liền với nhu cầu thực tiễn sản xuất của từng vùng kinh tế sinh thái. Địa phương cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chế biến nông sản tại chỗ. Việc này giúp tạo việc làm phi nông nghiệp và ổn định thu nhập cho nông dân. Bên cạnh đó, chính quyền tỉnh phải hoàn thiện chính sách an sinh xã hội và chăm sóc y tế cơ sở. Cải thiện điều kiện sống giúp người lao động nâng cao thể lực và an tâm sản xuất. Nâng cao đời sống văn hóa tinh thần tại các thôn bản là giải pháp quan trọng. Sự kết hợp giữa động lực kinh tế và động lực tinh thần sẽ tạo sức mạnh toàn diện cho nguồn lực con người.

3.1. Đẩy mạnh đào tạo nghề và nâng cao trình độ kỹ thuật nông dân

Nâng cao trình độ học vấn và tay nghề kỹ thuật là yêu cầu sống còn của quá trình hiện đại hóa nông nghiệp. Tỉnh Nghệ An cần đa dạng hóa các hình thức đào tạo nghề ngắn hạn và dài hạn cho nông dân. Chương trình đào tạo tập trung vào kỹ năng vận hành máy móc nông nghiệp và ứng dụng công nghệ sinh học. Các trung tâm khuyến nông cần tăng cường hướng dẫn thực hành trực tiếp ngay trên đồng ruộng. Nông dân được trang bị kiến thức quản trị kinh doanh nông nghiệp và tiếp thị sản phẩm trực tuyến. Việc chuẩn hóa kỹ năng lao động giúp người nông dân làm chủ khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

3.2. Xây dựng môi trường văn hóa xã hội và chính sách đãi ngộ hợp lý

Môi trường văn hóa xã hội lành mạnh là bệ đỡ tinh thần kích thích sự sáng tạo của người lao động. Nghệ An cần tiếp tục đẩy mạnh phong trào xây dựng làng xã văn hóa và gia đình văn hóa mới. Các thiết chế văn hóa, trạm y tế và trường học cơ sở phải được đầu tư đồng bộ. Tỉnh cần xây dựng chính sách tín dụng ưu đãi hỗ trợ nông dân khởi nghiệp và ứng dụng công nghệ. Cơ chế khen thưởng kịp thời cho những sáng kiến cải tiến kỹ thuật nông nghiệp sẽ tạo động lực thi đua mạnh mẽ. Chăm lo tốt đời sống vật chất và tinh thần giúp bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống xứ Nghệ.

IV. Ý nghĩa triết học và định hướng phát triển con người Nghệ An

Nghiên cứu phát huy nhân tố con người trong công nghiệp hóa nông nghiệp mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Về mặt triết học, vấn đề này khẳng định chân lý con người vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của lịch sử. Sự nghiệp hiện đại hóa nông thôn Nghệ An chỉ có thể thành công khi nhân tố con người được đặt ở vị trí trung tâm của mọi hoạch định phát triển. Phát huy nguồn lực con người tạo bước đột phá then chốt để giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển nhanh và điểm xuất phát kinh tế thấp. Trong bối cảnh kinh tế số và hội nhập quốc tế, Nghệ An cần tiếp tục hoàn thiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc gắn kết chặt chẽ giữa nâng cao thể lực, trí lực và phẩm chất đạo đức cách mạng là định hướng lâu dài. Sự phát triển toàn diện của người nông dân Nghệ An sẽ tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp xây dựng nông thôn mới văn minh và hiện đại.

4.1. Đóng góp lý luận vào đề tài luận văn thạc sĩ triết học

Đề tài luận văn thạc sĩ triết học làm sáng tỏ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về phát huy nhân tố con người. Công trình hệ thống hóa các quan điểm đường lối của Đảng về công nghiệp hóa nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học vững chắc về mối quan hệ biện chứng giữa con người và tiến bộ kinh tế kỹ thuật. Kết quả nghiên cứu làm phong phú thêm lý luận về phát triển nguồn nhân lực tại các địa phương có điểm xuất phát thấp. Đề tài đóng góp tài liệu tham khảo có giá trị cao cho công tác giảng dạy và nghiên cứu triết học xã hội.

4.2. Khả năng ứng dụng thực tiễn trong hoạch định chính sách tại Nghệ An

Các luận cứ khoa học từ nghiên cứu cung cấp cơ sở tin cậy cho các cấp ủy đảng tỉnh Nghệ An. Địa phương có thể vận dụng đề xuất để ban hành các chương trình phát triển nông thôn phù hợp. Chính sách đào tạo nghề và phân bổ lại lao động nông thôn được tối ưu hóa theo hướng thực chất. Đề tài hỗ trợ xây dựng giải pháp khai thác tốt nguồn lực lao động địa phương, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp. Việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa xứ Nghệ được lồng ghép hiệu quả vào mục tiêu kinh tế. Nghiên cứu thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa nông thôn Nghệ An diễn ra nhanh và bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths triết học phát huy nhân tố con người trong quá trình cnh hđh nông nghiệp nông thôn nước ta hiện nay qua thực tế nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Nhân tố con người và vai trò của nhân tố con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn 1. quan điểm mác xít về nhân tố con người 1. Khái niệm về con người Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như: sinh vật học, tâm lý học, đạo đức học, y học. Song, giải đáp những vấn đề chung nhất về con người như bản chất con người, mục đích và ý nghĩa cuộc sống của con người, vai trò của con người trong thế giới như thế nào là những câu hỏi lớn của các hệ thống triết học từ cổ đại đến hiện đại, từ phương Đông sang phương Tây.

Trong triết học trước Mác đã từng tồn tại những quan điểm khác nhau về vấn đề con người. Triết học thời cổ đại, trong quan niệm về con người thường tập trung tìm kiếm xem có cái gì đó là cơ sở đầu tiên cấu tạo nên con người và cấu tạo như thế nào theo hai xu hướng (nhất nguyên luận và nhị nguyên luận). Do hạn chế về điều kiện lịch sử, nên quan niệm về con người thường mang tính chất thần bí và duy tâm. Thời kỳ Trung cổ đại ở phương Tây cùng với sự thống trị của Thiên Chúa giáo, con người được quan niệm là do thượng đế, đức Chúa trời sáng tạo ra, con người mắc phải tội tổ tông truyền, phải chịu khổ, chịu nạn, phải chuộc tội, phải cầu Chúa và tin tưởng vô điều kiện vào Chúa.

Thời kỳ Phục Hưng con người được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Chủ nghĩa nhân đạo tư sản đề cao con người với những nhu cầu cá nhân. ở thời kỳ Cận đại, do ảnh hưởng của quan niệm siêu hình, máy móc, 7 con người cũng được xem xét như "1 cỗ máy". Phơ-bách là một trong những nhà duy vật lớn nhất của triết học trước Mác đấu tranh quyết liệt chống chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo.

Nhưng Phơ-bách không hiểu được hoạt động thực tiễn xã hội của con người, không hiểu được vai trò của thực tiễn sản xuất trong quá trình nhận thức thế giới và cải tạo thế giới, coi thực tiễn là hành động tầm thường, có tính chất con buôn. Cho nên, hạn chế lớn nhất trong triết học "nhân bản" của ông là ở chỗ hiểu không đúng về con người. Ông coi con người chỉ là một thực thể mang bản chất tộc loại, không hiểu được bản chất xã hội của con người, không thấy được vai trò của mối quan hệ giữa người với người quy định bản chất của họ. Quan niệm của Phơ-bách về bản chất con người vẫn mang tính trừu tượng, phi lịch sử.

Từ quan niệm này ông đã trượt từ chủ nghĩa duy vật trong quan niệm về giới tự nhiên sang chủ nghĩa duy tâm trong quan niệm xã hội. Tóm lại, những sai lầm thiếu sót chủ yếu trong nhận thức triết học về bản chất con người của các hệ thống triết học trước Mác là do xuất phát từ lập trường duy tâm hoặc từ phương pháp siêu hình trong cách xem xét vấn đề con người. Đến chủ nghĩa Mác, với chủ nghĩa duy vật triệt để và phương pháp biện chứng khoa học, vấn đề con người đã được giải đáp một cách toàn diện khoa học. Con người được chủ nghĩa Mác xem xét trong sự thống nhất biện chứng giữa cái sinh vật và cái xã hội.

Tiền đề xuất phát của chủ nghĩa Mác không phải là con người trừu tượng, con người sinh học thuần túy, con người "xã hội" trống rỗng, không có cá nhân; mà hoàn toàn ngược lại. "Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ, và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của họ sáng tạo ra" [23, tr. Đó là những con người sống trong một thời đại nhất định, một 8 môi trường xã hội nhất định, có những quan hệ xã hội nhất định. Những con người sống và hoạt động, mà hoạt động bản chất nhất, có tính người nhất là sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt của mình, mặc dầu ăn, uống, sinh con đẻ cái cũng là hoạt động có tính người.

Triết học Mác không hề phủ nhận cũng không tuyệt đối hóa mặt tự nhiên sinh học khi xem xét con người với tư cách là những cá nhân đang sống và hoạt động. Trước hết, Mác thừa nhận con người là một động vật cao cấp, sản phẩm của quá trình tiến hóa tự nhiên. Mác viết: "Con người sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải duy trì một quá trình thường xuyên để tồn tại" [23, tr.

Con người, do đó không nằm ngoài sự chi phối của quy luật tự nhiên bởi lẽ, "bản thân chúng ta. là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên" [22, tr. Thừa nhận yếu tố sinh vật của con người nghĩa là thừa nhận những quy luật sinh học chung của con người, những đặc điểm về cấu trúc và chức năng cơ thể, đời sống sinh lý, đặc tính di truyền. Tuy nhiên, Mác không thừa nhận quan điểm cho rằng: cái duy nhất tạo nên bản chất con người là đặc tính sinh học, là bản năng thuần túy của con người.

Cái sinh vật của con người (cái sinh vật này không còn mang tính tự nhiên thuần túy động vật) chỉ tồn tại đối với con người xã hội. Nghĩa là trong xã hội, cái sinh vật đã được xã hội hóa. Nếu tách khỏi quan hệ xã hội thì chỉ còn lại bản năng sinh vật. Những thiên chức bẩm sinh do tự nhiên "ban tặng" bởi quá trình tiến hóa lâu dài của sự sống hữu cơ, có thể được nuôi dưỡng phát triển hoặc thui chột đi tùy thuộc vào điều kiện, môi trường xã hội, do hoàn cảnh xã hội quyết định.

Cái nền tảng căn bản - có tính chất quyết định của sự thống nhất giữa cái sinh vật và cái xã hội - chính là hoạt động thực tiễn mà trước hết là lao động sản xuất. Thông qua hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới hiện thực khách 9 quan mà con người tự khẳng định mình như một thực thể xã hội, thoát khỏi trạng thái tự nhiên thuần túy. Chính "lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức độ mà trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người" [22, tr. 641] Vạch ra vai trò của các mối quan hệ xã hội trong yếu tố cấu thành bản chất của con người là một cống hiến quan trọng của triết học Mác.

Mác viết: "Bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội" [21, tr. 11] Kế thừa tư tưởng của Mác và tri thức triết học phương Đông, vốn văn hóa dân tộc, Hồ Chí Minh luôn chú ý đến con người. Trong quan niệm Hồ Chí Minh, con người là những cá nhân cụ thể, vừa là cộng đồng người đang sống với những nhu cầu hiện thực của họ.

Hồ Chí Minh khẳng định, lịch sử xã hội loài người là do chính con người sáng tạo ra bởi chính hoạt động của mình. Hồ Chí Minh viết: "vô luận điều gì đều do con người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đều thế cả" [16, tr. Con người đã sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và giá trị tinh thần cho đời sống xã hội cũng như phương thức sử dụng, hưởng thụ những thành quả của hoạt động đó. Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của con người trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới.

Hoàn cảnh tạo ra con người, nhưng trong chừng mực mà con người tạo ra hoàn cảnh. Để cải tạo hoàn cảnh, trước hết con người phải ý thức rõ hơn hoàn cảnh cần được cải tạo. Con người là chủ thể, hoàn cảnh là khách thể được cải tạo. Hồ Chí Minh viết: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa" [18, tr.

ở đây là con người 10 giác ngộ XHCN có ý thức về sự cần thiết phải cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng vai trò của quần chúng nhân dân - lực lượng sáng tạo chân chính ra lịch sử, là lực lượng nòng cốt của mọi cuộc cách mạng xã hội. Hồ Chí Minh khẳng định: "Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là người sáng tạo. Nhưng, quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã hội.

Quần chúng còn là người sáng tác nữa. Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý" [17, tr. Vấn đề quan trọng trong tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh là tin tưởng và tôn trọng mãnh liệt vào sức mạnh và phẩm giá con người, đặc biệt là quần chúng nhân dân lao động: "dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong". Hồ Chí Minh rất coi trọng tính tự giác, chủ động, tích cực, năng động, sáng tạo của con người trong hoạt động (cả trong hoạt động thực tiễn và nhận thức).

Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng các nhu cầu và quyền lợi chính đáng của con người. Bởi vì, nếu các nhu cầu và quyền lợi chính đáng của con người không được quan tâm đúng mực thì tính tự giác, tích cực của họ bị giảm sút, xã hội mất đi nguồn động lực của sự phát triển. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Có như vậy thì nhân dân mới tin, mới dám nói sự thật, đấu tranh cho lẽ phải và sự công bằng, mới có sự sáng tạo, từ đó tạo ra động lực thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.

Hồ Chí Minh viết: "Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân" [16, tr. 368] 11 Nhận thức trên đây là một căn cứ xuất phát rất quan trọng định hướng cho quá trình xây dựng và phát triển con người mới, phát huy tối đa tính tự giác, tích cực, năng động, sáng tạo của nhân tố con người, cho quá trình xây dựng và phát triển đời sống vật chất, văn hóa tinh thần nói chung, và đặc biệt cho sự thắng lợi của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước ta hiện nay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ