Luận văn ThS Triết học: Phát huy nhân tố con người trong LLVT Cần Thơ

Luận văn thạc sĩ triết học nghiên cứu giải pháp phát huy nhân tố con người trong lực lượng vũ trang địa phương thành phố Cần Thơ giai đoạn hiện nay.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
108
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát huy nhân tố con người trong LLVT Cần Thơ

Triết học Mác - Lênin khẳng định con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự tiến bộ xã hội. Trong lĩnh vực quân sự, nhân tố con người giữ vai trò quyết định thắng lợi trên chiến trường. Vũ khí và trang bị kỹ thuật chỉ phát huy tác dụng thông qua năng lực của con người. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm lấy việc phát huy nguồn lực con người làm trung tâm. Lực lượng vũ trang địa phương thành phố Cần Thơ giữ vị trí trọng yếu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Địa bàn này là trung tâm kinh tế, văn hóa và quân sự của Quân khu 9. Cán bộ, chiến sĩ tại đây cần có bản lĩnh chính trị vững vàng. Họ phải đáp ứng tốt yêu cầu huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu. Việc nghiên cứu nhân tố con người dưới góc độ triết học mang tính cấp thiết cao. Hoạt động này giúp xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

1.1. Cơ sở triết học về vai trò của nhân tố con người

Con người là thực thể sinh học và xã hội thống nhất. Hoạt động thực tiễn của con người thúc đẩy lịch sử phát triển. Trong hoạt động quân sự, nhân tố con người thể hiện qua phẩm chất chính trị, tinh thần dũng cảm, trí tuệ và thể lực. Ý chí quyết tâm và niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc tạo nên sức mạnh chiến đấu phi thường. Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ vũ khí hiện đại không thể thay thế ý chí con người. Phát huy tiềm năng của cán bộ, chiến sĩ là chìa khóa bảo đảm thắng lợi trong mọi tình huống tác chiến.

1.2. Vị trí chiến lược của lực lượng vũ trang Cần Thơ

Thành phố Cần Thơ là trung tâm kinh tế, chính trị của khu vực Tây Nam Bộ. Lực lượng vũ trang thành phố đảm nhiệm trọng trách giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Đơn vị thường xuyên phối hợp với các lực lượng chức năng xử lý kịp thời các tình huống phát sinh. Cán bộ, chiến sĩ địa phương vừa thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, vừa tham gia phòng chống thiên tai và cứu hộ cứu nạn. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ giúp củng cố thế trận quốc phòng toàn dân ngày càng vững chắc.

II. Thực trạng phát huy nhân tố con người ở LLVT địa phương Cần Thơ

Công cuộc đổi mới đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho lực lượng vũ trang Cần Thơ. Đa số cán bộ, chiến sĩ có lập trường tư tưởng kiên định và phẩm chất đạo đức trong sáng. Họ luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đội ngũ quân nhân tích cực rèn luyện kỹ năng tác chiến và làm chủ vũ khí kỹ thuật. Tinh thần đoàn kết nội bộ và mối quan hệ gắn bó với nhân dân luôn được duy trì tốt đẹp. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn bộc lộ một số khó khăn nhất định. Tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường làm nảy sinh lối sống thực dụng ở một bộ phận nhỏ quân nhân. Các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ. Âm mưu này nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết và làm suy giảm ý chí chiến đấu. Công tác dự báo và nắm bắt diễn biến tư tưởng đôi lúc còn bị động. Những yếu tố trên đòi hỏi phải có đánh giá khách quan và toàn diện.

2.1. Những kết quả tích cực trong rèn luyện bản lĩnh chính trị

Lực lượng vũ trang thành phố Cần Thơ luôn giữ vững định hướng chính trị đúng đắn. Công tác giáo dục truyền thống cách mạng được triển khai nền nếp, thường xuyên. Tỷ lệ quân nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn và huấn luyện chiến đấu đạt mức cao. Cán bộ, chiến sĩ luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Môi trường quân sự kỷ luật, dân chủ giúp khơi dậy tính tự giác, tinh thần cống hiến và lòng tự hào của mỗi cá nhân trong đơn vị.

2.2. Thách thức từ kinh tế thị trường và diễn biến hòa bình

Sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai xấu độc tạo áp lực lớn lên tâm lý quân nhân. Một số ít chiến sĩ trẻ còn dao động trước những cám dỗ vật chất đời thường. Thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch trên không gian mạng ngày càng tinh vi. Hiện tượng này ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Điều kiện sinh hoạt và thu nhập của một bộ phận chiến sĩ vẫn còn gặp khó khăn, tác động đến mức độ yên tâm công tác lâu dài.

III. Giải pháp triết học phát huy nhân tố con người LLVT TP Cần Thơ

Để phát huy tối đa nhân tố con người, cần triển khai hệ thống giải pháp đồng bộ và khoa học. Trước hết, công tác giáo dục chính trị tư tưởng phải được đặt lên hàng đầu. Cán bộ, chiến sĩ cần thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Việc bồi dưỡng phải gắn liền với thực tiễn huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu. Cần đổi mới phương pháp huấn luyện theo hướng sát thực tế chiến trường và làm chủ vũ khí hiện đại. Xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, dân chủ và kỷ luật nghiêm minh. Bên cạnh đó, chính sách hậu phương quân đội giữ vai trò là động lực vật chất to lớn. Cần kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể. Chăm lo tốt đời sống vật chất, tinh thần giúp quân nhân an tâm cống hiến. Sự phối hợp chặt chẽ giữa cấp ủy, chỉ huy và chính quyền địa phương tạo sức mạnh tổng hợp to lớn.

3.1. Tăng cường giáo dục chính trị và nâng cao năng lực thực tiễn

Công tác giáo dục chính trị cần đổi mới về nội dung và hình thức truyền tải. Việc học tập lý luận phải gắn liền với giải quyết các vấn đề thực tiễn của đơn vị. Cán bộ chỉ huy cần tăng cường đối thoại, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của chiến sĩ. Huấn luyện quân sự phải nâng cao kỹ thuật, chiến thuật và khả năng tác chiến độc lập. Đơn vị cần chủ động tổ chức diễn tập sát với phương án tác chiến tại địa bàn sông nước Cần Thơ.

3.2. Hoàn thiện chế độ chính sách và bảo đảm lợi ích thiết thực

Thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ và gia đình quân nhân. Địa phương cần quan tâm hỗ trợ nhà ở, việc làm và chính sách hậu phương quân đội. Việc bảo đảm lợi ích vật chất chính đáng tạo động lực mạnh mẽ để quân nhân cống hiến. Cần xây dựng cơ chế thi đua, khen thưởng công bằng, minh bạch nhằm khích lệ tinh thần sáng tạo. Đời sống văn hóa tinh thần phong phú giúp củng cố khối đoàn kết nội bộ vững chắc.

IV. Kết luận và ý nghĩa thực tiễn đối với LLVT địa phương Cần Thơ

Phát huy nhân tố con người là quy luật tất yếu trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Đề tài luận văn thạc sĩ triết học đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề. Nghiên cứu khẳng định con người luôn giữ vai trò quyết định mọi thắng lợi quân sự. Việc vận dụng đúng đắn quan điểm triết học Mác - Lênin giúp nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang Cần Thơ. Địa phương đã từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ vững mạnh toàn diện. Họ có đủ năng lực làm thất bại mọi âm mưu diễn biến hòa bình của kẻ thù. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu góp phần hoàn thiện công tác lãnh đạo, quản lý quân sự tại địa phương. Đây là tiền đề quan trọng để củng cố khu vực phòng thủ thành phố Cần Thơ ngày càng vững chắc. Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của toàn thể cán bộ, chiến sĩ.

4.1. Giá trị lý luận và phương pháp luận của đề tài nghiên cứu

Đề tài hệ thống hóa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tố con người trong quân sự. Luận văn cung cấp phương pháp luận khoa học để phân tích thực tiễn tại địa phương Cần Thơ. Công trình góp phần làm sâu sắc thêm mối quan hệ biện chứng giữa con người và vũ khí kỹ thuật. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị cho công tác giảng dạy lý luận chính trị và nghiên cứu khoa học quân sự.

4.2. Khả năng ứng dụng vào nhiệm vụ quân sự quốc phòng hiện nay

Các giải pháp trong luận văn có tính khả thi cao, phù hợp với đặc điểm địa bàn thành phố Cần Thơ. Cấp ủy và chỉ huy các cấp có thể áp dụng trực tiếp vào công tác quản lý tư tưởng và huấn luyện bộ đội. Nghiên cứu giúp nâng cao hiệu quả phối hợp giữa quân đội với các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương. Việc phát huy nguồn lực con người tạo nền tảng vững chắc cho thế trận an ninh nhân dân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths triết học phát huy nhân tố con người trong lực lượng vũ trang địa phương thành phố cần thơ hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 yêu cầu cấp bách Của Việc Phát HUY NHÂN Tố CON Người TRONG Lực Lượng Vũ TRANG Địa PHƯƠNG Thành Phố Cần THƠ Hiện NAY 1. Khái Niệm: CON Người, NHÂN Tố CON Người, NHÂN Tố CON Người TRONG Lực Lượng Vũ TRANG 1. Khái niệm con người Vấn đề con người là một vấn đề tưởng là cũ nhưng rất mới, vì lẽ, con người còn chứa đựng rất nhiều tiềm năng và giá trị nhưng chưa được phát hiện và khai thác triệt để. Con người còn tồn tại thì vấn đề con người vẫn được đặt ra và các nhà tư tưởng, các trường phái triết học quan tâm nghiên cứu.

Suy cho cùng, chính từ con người, vấn đề cơ bản của triết học mới được xác định, cũng như những vấn đề về thế giới quan và phương pháp luận mới được đặt ra. Mác là người đầu tiên phát hiện vấn đề con người là vấn đề trung tâm của thế giới để đặt ra vấn đề giải phóng xã hội loài người; mà trước đó, các trường phái triết học cũng đề cập vấn đề này trên nhiều bình diện khác nhau. Nhưng chỉ có C. Mác mới xem xét vấn đề con người một cách cụ thể, sâu sắc và toàn diện trên quan điểm duy vật biện chứng bằng sự kế thừa rất biện chứng những giá trị khoa học đã có trong lịch sử triết học về con người.

Các nhà triết học trước C. Mác do hạn chế về thế giới quan, hoặc do hạn chế về điều kiện lịch sử nên vấn đề con người giải thích theo hướng duy tâm thần bí, siêu hình. Sai lầm của các nhà triết học duy tâm khi coi bản chất con người là sản phẩm của các đấng siêu nhiên tối cao, là hiện thân của "tinh thần tuyệt đối", là kết quả của sự "tha hóa" của tinh thần tuyệt đối mà có, hoặc là sản phẩm của ý thức chủ quan của chính bản thân con người. Còn quan điểm của các nhà triết học duy vật trước C.

Mác cho rằng, con người là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của sự phát triển của tự nhiên. Họ còn cho rằng, con người 9 bẩm sinh là một sinh vật có tính xã hội. Họ chỉ thấy sự tồn tại hiện thực của con người trong mối quan hệ với tự nhiên mà không hề xét đến mối quan hệ chi phối cuộc sống của họ. Cách khác, họ thừa nhận tác động của môi trường đối với sự cải biến con người, mà họ giải thích không đúng với bản chất con người và vai trò của con người trong thực tiễn cách mạng, cũng như vai trò của thực tiễn đối với việc hình thành và phát triển con người.

Ăngghen nghiên cứu, nhận thức về con người mới có sự thay đổi căn bản về chất so với các nhà triết học khác. Xuất phát từ con người hiện thực, C. Mác vận dụng phép biện chứng duy vật vào việc phân tích các mối quan hệ xã hội và chỉ ra rằng, con người tồn tại với tư cách là người khi nó gắn với thế giới xung quanh, với cộng đồng và với người khác. Hoạt động thực tiễn của con người tạo thành hệ thống các mối quan hệ xã hội.

Mác viết trong Luận cương về Feuerbach: "Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội" [38, tr. Điều đó có nghĩa là, những quan hệ xã hội đó được thể hiện trong toàn bộ hoạt động cụ thể của con người. Chỉ có những con người sống, hoạt động trong một xã hội nhất định, một thời đại nhất định, trong những điều kiện lịch sử nhất định chứ không có những con người trừu tượng.

Con người chỉ có thể bộc lộ và thực hiện được bản chất của mình trong toàn bộ những quan hệ xã hội cụ thể mà thôi. Chúng ta không thể dừng lại ở mối quan hệ chật hẹp giữa cơ thể con người và môi trường, mà muốn hiểu được nó - Con người hiện thực, đời sống hiện thực của con người thì phải xem xét toàn diện các mối quan hệ. Đó chính là mối quan hệ của con người với tự nhiên và xã hội. Tự nhiên, xã hội và con người là một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau.

Con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể sáng tạo ra tự nhiên và xã hội ở trình độ cao hơn. Cho nên, không có xã hội và tổng hòa các mối quan hệ xã hội thì sẽ không có con người đúng theo nghĩa của nó. Bản chất của con người hiện thực được quy định bởi các quan hệ xã 10 hội. Tự nhiên sinh ra con người, là cái có trước con người, nên con người phụ thuộc vào tự nhiên và các quy luật của tự nhiên.

Con người trở thành chính mình là vì không lệ thuộc thụ động vào tự nhiên như những sinh vật khác. Chính nhờ lao động, thông qua lao động con người thích nghi với tự nhiên, hoàn cảnh, môi trường và cải tạo tự nhiên, làm ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của chính mình mà tự nhiên không có. Quá trình cải tạo tự nhiên là quá trình con người tự hoàn thiện chính mình, tự khẳng định mình trước tự nhiên. Con người có trước xã hội.

Xã hội loài người hiểu theo đúng nghĩa của nó khi tính cộng động và những mối quan hệ xã hội con người được hình thành và thiết lập vững chắc. Chỉ có trong đời sống thực tiễn, con người mới được hình thành và ngày càng hoàn thiện.Ăngghen nghiên cứu sâu sắc những thành tựu của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và chỉ ra rằng: Con người không do ai sáng tạo ra mà là sản phẩm cao nhất trong quá trình phát triển lâu dài của giới tự nhiên. Đây là bước ngoặt cách mạng trong nhận thức về bản chất con người do hai ông đem lại. Mác chỉ rõ rằng, mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều gắn với một phương thức sản xuất vật chất nhất định, khi phương thức sản xuất vật chất biến đổi thì lực lượng sản xuất cũng biến đổi theo.

Nhân tố quyết định sự biến đổi đó chính là hai yếu tố: người lao động và tư liệu sản xuất. Con người cùng với công cụ lao động do con người tạo ra đã quyết định sự phát triển của xã hội. Ngược lại, sự phát triển của xã hội đến lượt nó lại quyết định sự hoàn thiện và phát triển chính bản thân con người. Đây là luận điểm có ý nghĩa quan trọng mà C.

Mác đã vạch ra, là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu con người, NTCN trong xã hội hiện nay.Ăngghen đã viết: Những tiền đề xuất phát của chúng tôi không phải là những tiền đề tùy tiện, không phải là giáo điều; đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi. Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt 11 vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do họ hoạt động của chính họ tạo ra [38, tr. Chính việc đưa quan điểm thực tiễn vào việc nghiên cứu con người, C.Ăngghen đã chuyển từ những suy luận tư biện về con người sang những giải pháp có cơ sở vững chắc trong đời sống xã hội. Hai ông đã tiếp thu tư tưởng hợp lý của Hêghen một cách sáng tạo khi cho rằng, con người là sản phẩm của chính họ, cái gọi là tính người chính là sản phẩm của hoạt động lao động của con người.

Hai ông đã khẳng định rằng, hoạt động là phương thức tồn tại của con người. Mặt khác, hai ông phê phán Feuerbach và các nhà triết học duy vật trước kia, rằng họ chỉ thấy giới tự nhiên như là khách thể mà không nhìn thấy trong giới tự nhiên có hoạt động thực tiễn của con người. Trong hoạt động thực tiễn, con người đã tạo ra thiên nhiên thứ hai chính từ thiên nhiên thứ nhất. Con người đã khách thể hóa bản chất của mình vào tự nhiên thuần túy để tạo nên thiên nhiên thứ hai cho mình.

Đây là phát hiện mới của hai ông: con người có khả năng cải tạo thế giới và cải tạo bản thân mình thông qua hoạt động thực tiễn. Xuất phát điểm từ thực tiễn, C. Mác đã xây dựng lý luận về vai trò tích cực của con người-Con người là chủ thể của sự vận động lịch sử, của sự phát triển trong mỗi cá nhân con người. Nói cách khác, hoạt động thực tiễn trở thành yếu tố quyết định đến sự hình thành nhân cách, làm con người trở thành người thực sự, bản chất con người chính là nhân cách.

Nhân cách đó được thể hiện trong các mối quan hệ xã hội. Quá trình lao động sáng tạo chính là quá trình con người nhập thân vào các quan hệ xã hội, tạo ra những giá trị xã hội. Mặt khác, chính những giá trị này tác động trở lại hình thành và phát triển nhân cách con người, bản chất xã hội của con người. Khác hẳn quan niệm con người ý thức của chủ nghĩa duy tâm, con người sinh vật của chủ nghĩa nhân bản Feuerbach, quan niệm của C.

Mác rất khoa học: 12 Nếu như tính cách con người là do hoàn cảnh tạo nên thì do đó phải làm cho hoàn cảnh hợp với tính người. Nếu như con người bẩm sinh đã là sinh vật có tính xã hội thì do đó con người chỉ có thể phát triển bản tính chân chính của mình trong xã hội và cần phải phán đoán lực lượng của bản tính anh ta, không phải căn cứ vào lực lượng của cá nhân riêng lẻ mà căn cứ vào lực lượng của toàn xã hội [37, tr. Con người tồn tại, phát triển và tham gia vào các hoạt động đời sống hiện thực cần phải thỏa mãn những tiền đề về nhu cầu tự nhiên như một cá thể sinh vật, xã hội. Và chính hoạt động sáng tạo trong đời sống hiện thực đã đem lại sự hoàn thiện NTCN.

Mác, giải phóng con người chính là hoàn thiện NTCN, hình thành nên những cá nhân tự do, làm phong phú và lành mạnh các quan hệ xã hội của con người. Xét về bản chất, phát triển con người là quá trình giải phóng NTCN để hoàn thiện năng lực người. Con người mang bản chất người nhiều hơn. Qua mỗi giai đoạn cách mạng, con người được hình thành và hoàn thiện từng bước, khắc phục sự tha hóa của con người, để con người hoạt động với tư cách là chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo vì sự phát triển xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ