Luận văn: Nông nghiệp trong phát triển bền vững ở tỉnh Hưng Yên hiện nay

Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị nghiên cứu vai trò của nông nghiệp trong phát triển bền vững tại tỉnh Hưng Yên hiện nay cùng các giải pháp nâng cao hiệu quả.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
121
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan nông nghiệp trong phát triển bền vững ở tỉnh Hưng Yên

Nông nghiệp giữ vai trò nền tảng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội tại tỉnh Hưng Yên. Tỉnh sở hữu vị trí địa lý thuận lợi thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Hệ thống giao thông kết nối thông suốt giữa các đô thị lớn tạo tiềm năng thương mại to lớn. Đất đai phù sa màu mỡ từ sông Hồng mang lại nguồn lực tự nhiên quý giá. Ngành nông nghiệp không chỉ đảm bảo an ninh lương thực cho toàn địa phương. Lĩnh vực này còn cung cấp nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp chế biến. Tuy nhiên, áp lực đô thị hóa đặt ra nhiều thách thức mới cho vùng đồng bằng. Nền nông nghiệp truyền thống cần chuyển đổi mạnh mẽ sang hướng sản xuất bền vững. Việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với bảo tồn môi trường sống. Đời sống người nông dân đòi hỏi sự cải thiện thực chất về thu nhập và phúc lợi xã hội. Vì vậy, nghiên cứu nông nghiệp theo góc độ kinh tế chính trị có ý nghĩa sống còn. Định hướng phát triển bền vững giúp Hưng Yên tối ưu hóa nguồn lực đất đai và lao động. Các mô hình kinh tế nông nghiệp mới đang dần khẳng định vị thế chủ lực trong khu vực.

1.1. Khung lý luận kinh tế chính trị về nông nghiệp bền vững

Kinh tế chính trị nghiên cứu các mối quan hệ sản xuất gắn liền với lực lượng sản xuất trong nông nghiệp. Phát triển nông nghiệp bền vững yêu cầu sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ sinh thái. Về mặt kinh tế, ngành sản xuất cần nâng cao năng suất và tạo giá trị thặng dư ổn định. Về mặt xã hội, quá trình sản xuất phải tạo việc làm và bảo đảm thu nhập công bằng cho người lao động. Về mặt môi trường, canh tác nông nghiệp không được làm suy thoái tài nguyên đất nước. Sự kết hợp ba yếu tố này tạo nên nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài của nền kinh tế địa phương.

1.2. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tại tỉnh Hưng Yên

Tỉnh Hưng Yên sở hữu vị trí địa lý chiến lược tại đồng bằng sông Hồng. Địa phương tiếp giáp các trung tâm kinh tế lớn như thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng. Hệ sinh thái nông nghiệp đa dạng tạo tiền đề chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi giá trị cao. Nguồn nhân lực tại nông thôn dồi dào, cần cù và có truyền thống thâm canh nông nghiệp lâu đời. Tỉnh có mạng lưới thủy lợi tương đối hoàn thiện phục vụ tưới tiêu hàng ngày. Đây là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sản xuất hàng hóa quy mô tập trung. Tuy nhiên, mật độ dân số cao khiến diện tích đất canh tác bình quân đầu người ngày càng thu hẹp.

II. Thực trạng nông nghiệp trong phát triển bền vững ở tỉnh Hưng Yên

Giai đoạn vừa qua chứng kiến sự chuyển dịch tích cực của nông nghiệp tỉnh Hưng Yên. Giá trị sản xuất nông nghiệp liên tục tăng trưởng qua các năm. Tỉnh đã hình thành nhiều vùng chuyên canh cây ăn quả và hoa cây cảnh chất lượng cao. Các mô hình trang trại quy mô lớn đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân. Tuy vậy, quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Quy mô sản xuất nhìn chung còn manh mún và phân tán theo từng hộ gia đình. Tình trạng lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật diễn ra phổ biến. Điều này làm suy giảm độ phì nhiêu của đất và gây ô nhiễm nguồn nước mặt. Liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến còn lỏng lẻo. Thị trường đầu ra nông sản thiếu tính ổn định dẫn đến rủi ro giá cả cao. Lao động trẻ tại nông thôn có xu hướng dịch chuyển mạnh sang khu vực công nghiệp. Lực lượng lao động nông nghiệp còn lại đang dần già hóa và thiếu đào tạo chuyên môn sâu. Những tồn tại này cản trở trực tiếp đến mục tiêu phát triển bền vững của toàn tỉnh.

2.1. Tác động của phương thức thâm canh tới môi trường sinh thái

Tập quán thâm canh tăng vụ tạo áp lực nặng nề lên môi trường tự nhiên. Việc sử dụng quá mức phân bón vô cơ làm đất canh tác bị chai cứng và thoái hóa độ phì. Nguồn nước ngầm và hệ thống kênh mương chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Ngoài ra, chất thải chăn nuôi chưa qua xử lý triệt để gây ô nhiễm không khí tại nhiều vùng nông thôn. Sự suy giảm đa dạng sinh học đồng ruộng khiến sâu bệnh phát sinh phức tạp hơn. Điều này buộc người sản xuất gia tăng lượng hóa chất sử dụng hàng năm. Vòng luẩn quẩn này đe dọa trực tiếp đến tính bền vững của hệ sinh thái nông nghiệp địa phương.

2.2. Hạn chế về liên kết chuỗi giá trị và tổ chức sản xuất nông nghiệp

Mô hình kinh tế hộ gia đình nhỏ lẻ vẫn giữ vị trí chủ đạo trong sản xuất. Các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới hoạt động chưa thực sự hiệu quả. Vai trò kết nối cung ứng vật tư và bao tiêu sản phẩm đầu ra còn mờ nhạt. Doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao còn rất khiêm tốn. Sự thiếu hụt chuỗi bảo quản sau thu hoạch khiến giá trị gia tăng của nông sản bị sụt giảm nhanh chóng. Nông dân thường xuyên đối mặt với điệp khúc được mùa mất giá. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nông nghiệp còn thấp so với yêu cầu hiện đại hóa. Những rào cản này làm suy giảm sức cạnh tranh của nông sản Hưng Yên.

III. Giải pháp nông nghiệp trong phát triển bền vững ở tỉnh Hưng Yên

Để giải quyết các rào cản hiện hữu, tỉnh Hưng Yên cần triển khai hệ thống giải pháp đồng bộ. Trọng tâm hàng đầu là đổi mới cơ chế quản lý và quy hoạch đất đai nông nghiệp. Chính quyền cần khuyến khích dồn điền đổi thửa để tạo vùng sản xuất tập trung quy mô lớn. Việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào canh tác cần được ưu tiên hàng đầu. Tỉnh nên hỗ trợ chuyển giao công nghệ sinh học và kỹ thuật tưới tiết kiệm cho các hợp tác xã. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp là nhiệm vụ cấp bách. Các tổ chức này sẽ là cầu nối vững chắc giữa người nông dân và thị trường tiêu thụ. Địa phương cần thu hút các doanh nghiệp lớn đầu tư vào chế biến sâu nông sản. Điều này giúp nâng cao giá trị thặng dư và giảm thiểu thất thoát sau thu hoạch. Đồng thời, công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động trẻ cần được mở rộng. Nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực then chốt thúc đẩy chuyển đổi số trong nông nghiệp. Toàn bộ chính sách phải hướng đến sự cân bằng hài hòa giữa kinh tế và bảo vệ môi trường.

3.1. Ứng dụng khoa học công nghệ và nông nghiệp hữu cơ

Tỉnh cần đẩy mạnh chuyển giao quy trình sản xuất nông nghiệp hữu cơ đạt chuẩn VietGAP và GlobalGAP. Người nông dân cần được hướng dẫn sử dụng phân bón vi sinh thay thế hóa chất vô cơ. Việc áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt tự động giúp tiết kiệm tài nguyên nước tưới. Hệ thống nhà màng và nhà lưới bảo vệ cây trồng trước biến đổi khí hậu bất thường. Ứng dụng công nghệ sinh học giúp phòng trừ sâu bệnh bằng thiên địch an toàn. Mô hình kinh tế tuần hoàn nông nghiệp cần được nhân rộng tại các huyện trọng điểm. Phế phụ phẩm trồng trọt được xử lý làm thức ăn chăn nuôi hoặc phân bón hữu cơ. Điều này vừa gia tăng hiệu quả kinh tế vừa bảo vệ môi trường tự nhiên.

3.2. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ và liên kết chuỗi tiêu thụ

Chính quyền địa phương cần ban hành chính sách ưu đãi tiếp cận tín dụng cho các dự án nông nghiệp xanh. Các doanh nghiệp đầu tư vào chế biến và bảo quản lạnh nông sản cần được hỗ trợ quỹ đất. Tỉnh chủ động xây dựng thương hiệu nông sản đặc sản Hưng Yên gắn với chỉ dẫn địa lý rõ ràng. Việc xúc tiến thương mại nông sản trên các sàn giao dịch số cần được đẩy mạnh liên tục. Hợp đồng liên kết bao tiêu giữa hợp tác xã và các hệ thống siêu thị lớn phải được chuẩn hóa pháp lý. Cơ chế này đảm bảo chia sẻ rủi ro và lợi ích hài hòa giữa các bên. Người nông dân yên tâm đầu tư sản xuất lâu dài mà không lo tình trạng ép giá.

IV. Định hướng nông nghiệp trong phát triển bền vững ở tỉnh Hưng Yên

Phát triển nông nghiệp bền vững là yêu cầu tất yếu đối với tỉnh Hưng Yên. Mô hình này bảo đảm sự ổn định kinh tế trong bối cảnh công nghiệp hóa nhanh. Kết quả nghiên cứu kinh tế chính trị cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoạch định chính sách. Nông nghiệp địa phương cần nhanh chóng chuyển dịch từ lượng sang chất. Việc áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn sẽ mở ra không gian phát triển mới. Giá trị nông sản Hưng Yên sẽ được nâng cao trên thị trường trong nước và quốc tế. Môi trường sinh thái nông thôn được gìn giữ cho các thế hệ tương lai. Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn sẽ được cải thiện rõ rệt. Nông nghiệp bền vững không chỉ là mục tiêu kinh tế đơn thuần. Đây còn là trụ cột bảo đảm an sinh xã hội và ổn định chính trị tại địa phương. Các chính sách nông nghiệp cần tiếp tục được hoàn thiện linh hoạt theo biến động thực tiễn. Sự đồng thuận của toàn xã hội là nhân tố quyết định thành công của đề tài trong thực tiễn.

4.1. Đóng góp học thuật của luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị

Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về nông nghiệp bền vững trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đề tài làm rõ đặc thù vận động của các quy luật kinh tế trong khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng. Công trình phân tích sâu sắc mối quan hệ hữu cơ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững được xây dựng cụ thể và phù hợp với thực tiễn địa phương. Đề tài cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cho công tác nghiên cứu và giảng dạy kinh tế chính trị.

4.2. Giá trị ứng dụng thực tiễn trong hoạch định chính sách địa phương

Kết quả nghiên cứu đề xuất các khuyến nghị chính sách sát thực cho các cơ quan quản lý nhà nước tại tỉnh Hưng Yên. Các giải pháp quy hoạch đất đai giúp nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên địa phương. Mô hình liên kết chuỗi giá trị tạo cơ sở xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế hàng năm. Đề tài hỗ trợ các hợp tác xã nông nghiệp hoàn thiện phương thức quản trị và kết nối thị trường. Doanh nghiệp có thêm căn cứ thực tiễn để xây dựng chiến lược đầu tư công nghệ chế biến. Sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền, doanh nghiệp và nông dân sẽ hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ NÔNG NGHIỆP TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1.1 Tổng quan về lí thuyết phát triển bền vững 1.1 Khái niệm và các mô hình phát triển bền vững 1.1 Khái niệm về phát triển bền vững Vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, thuật ngữ “phát triển bền vững” lần đầu được đề cập đến trong bản báo cáo chiến lược bảo tồn thế giới, do ủy ban bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế (IUCN) thuộc quỹ động vật hoang dã thế giới và chương trình môi trường liên hợp quốc công bố (cùng với sự trợ giúp của UNESCO và FAO) với nội dung đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái”. Kể từ năm 1987, khái niệm phát triển bền vững mới chính thức được phổ biến rộng rãi sau khi báo cáo Brudrland (hay còn gọi là tương lai của chúng ta) của ủy ban môi trường và phát triển thế giới thuộc liên hợp quốc được công bố. Báo cáo này nêu rõ “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Nội dung về phát triển bền vững này thể hiện tính tổng hợp, phạm vi rộng, bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau như kinh tế, xã hội, môi trường…Không bị ép buộc bởi những chuẩn mực hay những quy tắc đã được định sẵn và có thể dẽ dàng áp dụng dựa theo những đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa…của các quốc gia và vùng lãnh thổ.

Bản báo cáo này được xem như là “Tiếng chuông cảnh báo” hành vi của con người trong thế giới đương đại, yêu cầu các quốc gia cần phải đưa ra cách nhìn 9 mới về hoạch định chiến lược phát triển lâu dài cảu mình, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bình đẳng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Khái niệm về phát triển bền vững này đã gây sự chú ý và thu hút sự quan tâm của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các giới khoa học và được nhiều quốc gia chấp nhận. Những năm sau đó, khái niệm về phát triển bền vững được tiếp tục điều chỉnh và bổ sung trong các hội nghị về mội trường và phát triển của liên hợp quốc (UNCED) tại Rio de Janeiro, Braxin (năm 1992), hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững (Hội nghị Rio +10 hay Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg tại Cộng hòa Nam Phi (năm 2002). Các hội nghị này đều thống nhất cho rằng phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ và hài hòa ba trụ cột của sự phát triển bao gồm: Phát triển kinh tế - nhấn mạnh sự tăng trưởng kinh tế; Phát triển xã hội - nhấn mạnh thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm; và bảo vệ môi trường - nhấn mạnh vấn đề xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, phòng chống cháy và chặt phá rừng, khai thác hợp lí và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.

Ba trụ cột này vừa phụ thuộc lại vừa củng cố lẫn nhau, đòi hỏi các quốc gia phải kết hợp hài hòa trong quá trình phát triển. Đối với Việt Nam, phát triển bền vững được biết đến khá muộn (vào những năm cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX). Đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển bền vững. Công trình nghiên cứu: Tiến tới môi trường bền vững của trung tâm tài nguyên và môi trường, Đại học tổng hợp Hà Nội năm 2005, trên cơ sở nghiên cứu báo cáo Brundtland đã đưa ra khái niệm bền vững trên bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn, bền vững về mặt môi trường và bền vững về mặt kỹ thuật.

Công trình nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I năm 2003 của viện môi trường và phát triển bền vững, hội liên hiệp các 10 hội khoa học kỹ thuật Việt Nam. Dựa trên nghiên cứu bộ tiêu chí phát triển bền vững của Brundtland và tham khảo kinh nghiệm một số nước như Trung Quốc, Anh, Hoa Kỳ, các tác giả đã xây dựng các tiêu chí cụ thể về phát triển bền vững đối với một quốc gia theo ba khía cạnh: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường, đồng thời các tác giả đề xuất một số phương án lựa chọn bộ phát triển bền vững cho Việt Nam. Như vậy, có thể thấy rằng, trong thời gian qua, ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về phát triển bền vững cơ bản khái quát hóa khái niệm phát triển bền vững theo Brundtland để đề xuất khái niệm và xây dựng các tiêu chí xác định phát triển bền vững cho phù hợp với mục tiêu và điều kiện phát triển của Việt Nam. Tuy nhiên, những khái niệm và các tiêu chí này còn mang tính liệt kê, tính thích ứng của các chỉ báo.

Như vây, các khái niệm về phát triển bền vững tuy có khác nhay ở phạm vi, nhưng đều phản ánh bản chất chung của phát triển là sự kết hợp giữa phát triển kinh tế với các vấn đề xã hội, môi trường một cách hài hòa, linh hoạt, ổn định. Các mô hình về phát triển bền vững Theo Jacobs và Sadler (năm 1990), phát triển bền vững là kết quả dung hòa và thỏa hiệp của ba hệ thống chủ yếu của thế giới, đó là (i) hệ thống tự nhiên- bao gồm các hệ sinh thái tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, các thành phần môi trường của trái đất, (ii) hệ thống kinh tế - hệ sản xuất và phân phối sản phẩm; (iii) hệ thống xã hội - bao gồm quan hệ của con người trong xã hội. Theo mô hình phát triển bền vững của UNECES (1993) nhấn mạnh các mục tiêu kinh tế (nâng cao thu nhập của người dân, phát triển các ngành kinh tế và GDP, GNP), mục tiêu xã hội (thỏa mãn các nhu cầu của mọi người dân và cộng đồng dân cư), mục tiêu môi trường (giữ lâu dài cân bằng của các hệ sinh thái nuôi dưỡng sự sống) thay cho các hệ kinh tế - xã hội - môi trường. Mô hình 11 này không thể hiện rõ sự tương tác, phụ thuộc và tính liên kết của các mục tiêu phát triển bền vững.

Mô hình của ủy ban môi trường và phát triển thế giới (WCED) đã mở rộng các lĩnh vực về phát triển bền vững bao gồm các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, hành chính, công nghệ, sản xuất và quốc tế. Về thực chất mô hình này xem xét sự phát triển bền vững của một quôc gia trước hết phải đảm bảo sự phát triển hài hòa của các yếu tố trên, sau đó phải được xem xét trong sự phát triển bền vững của thế giới và do vậy, chịu sự tác động của các yếu tố mang tính quốc tế. Presscott Allen (năm 1995) đã đưa ra mô hình “Quả trứng” phản ánh tính bền vững của xã hội. Mô hình mô tả hệ con người nằm trong hệ sinh thái giống như lòng đỏ quả trứng nằm trong lòng trắng một quả trứng.

Quả trứng tốt khi cả lòng đỏ và lòng trắng đều tốt cũng giống như một xã hội bền vững khi cả hai hệ con người và hệ sinh thái đều đạt yêu cầu và được cải thiện. Điều đó có nghĩa là hệ con người và hệ sinh thái đều quan trọng như nhau trong điều kiện phát triển bền vững. Ở Việt Nam, trong thời gian qua Đảng và Nhà nước luôn nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của sự phát triển bền vững không chỉ đối với sự phát triển trong tương lai của đất nước, mà còn là trách nhiệm đối với sự phát triển chung của toàn cầu. Năm 2004, Việt Nam đã xây dựng cho mình chương trình phát triển bền vững riêng, mang tên AGENDA-21, trong đó nêu rõ mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là: “Đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về văn hóa và tinh thần, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội, và bảo vệ môi trường.” Như vậy, theo mô hình phát triển bền vững của Việt Nam, phát triển bền vững là vấn đề cốt lõi, trung tâm của sự phối hợp một cách hài hòa cả ba mặt 12 tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội, và bảo vệ môi trường.

Trong đó, mục đích cuối cùng của phát triển bền vững mà Việt Nam cần hướng tới là chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao. Tóm lại, cho đến nay đã có nhiều mô hình phát triển bền vững, thể hiện sự đa dạng, phong phú dưới nhiều hình thức khác nhau. Song, vấn đề cốt lõi của các mô hình đề cập trên là sự kết hợp hài hòa của ba nhân tố chính: kinh tế, xã hội và môi trường.2 Nội dung và các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững 1.1 Nội dung phát triển bền vững Cho đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng cùng có chung quan điểm là phát triển bền vững thể hiện sự kết hợp chặt chẽ, sự phát triển cân đối, hài hòa giữa ba nhân tố tăng trưởng kinh tế, xã hội và môi trường. Phát triển bền vững về kinh tế: Nền kinh tế tăng trưởng liên tục, ổn định, có cơ cấu kinh tế được điều chỉnh hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất.

Tăng trưởng kinh tế gắn liền với việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân, tạo việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo, đồng thời không gây ra sự hủy hoại hay cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường sinh thái. Phát triển bền vững về xã hội: Sự phát triển kinh tế phải đi đôi với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ