Luận văn: Lợi ích kinh tế nông dân chuyển đổi cây giấy tại Phú Thọ

Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị nghiên cứu lợi ích kinh tế của nông dân khi chuyển đổi cơ cấu cây nguyên liệu giấy tại tỉnh Phú Thọ hiện nay.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
109
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chuyển đổi cây nguyên liệu giấy và lợi ích hộ nông dân

Chuyển đổi cơ cấu cây nguyên liệu giấy là quá trình phân bổ lại diện tích canh tác giữa các loài cây lâm nghiệp nhằm tối ưu hóa năng suất và hiệu quả kinh tế. Tại Phú Thọ, quá trình này đóng vai trò then chốt đối với đời sống kinh tế hộ nông dân vùng trung du miền núi. Tỉnh sở hữu điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu rất thích hợp cho việc phát triển rừng sản xuất. Việc thay thế các giống cây bản địa kém hiệu quả bằng các giống keo lai, bạch đàn mô và bồ đề giúp rút ngắn chu kỳ khai thác. Nông dân không chỉ cung ứng gỗ phục vụ các nhà máy chế biến bột giấy như Tổng công ty Giấy Việt Nam tại Bãi Bằng mà còn tạo dựng nguồn sinh kế bền vững. Lợi ích kinh tế của người trồng rừng thể hiện trực tiếp qua thu nhập ròng từ việc bán gỗ thương phẩm và tận thu phế phụ phẩm lâm sinh. Ngoài ra, việc chuyển đổi còn giúp tăng cường giá trị tích lũy tài sản và bảo đảm sự ổn định tài chính gia đình qua từng chu kỳ thu hoạch. Quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung gắn liền với cơ chế thị trường mở ra nhiều cơ hội đầu tư cho nông dân địa phương.

1.1. Cơ sở lý luận về lợi ích kinh tế trong lâm nghiệp

Lợi ích kinh tế của hộ nông dân trồng rừng là mối quan hệ kinh tế phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu vật chất thông qua kết quả sản xuất kinh doanh lâm nghiệp. Trong kinh tế chính trị, lợi ích này hình thành từ sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất và sức lao động trên đất lâm nghiệp được giao quyền sử dụng. Khi chuyển đổi cơ cấu cây trồng, hộ nông dân hướng đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận ròng trên một đơn vị diện tích. Lợi ích kinh tế bao gồm tiền bán gỗ nguyên liệu, tiền công lao động tự có và các giá trị phụ trợ. Sự hài hòa giữa lợi ích hộ dân và doanh nghiệp thu mua là động lực cốt lõi thúc đẩy chuỗi giá trị lâm nghiệp phát triển ổn định.

1.2. Vai trò của vùng nguyên liệu giấy tại tỉnh Phú Thọ

Phú Thọ giữ vị trí trung tâm trong mạng lưới cung ứng gỗ nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy phía Bắc. Phát triển vùng rừng nguyên liệu giúp địa phương khai thác triệt để quỹ đất đồi rừng cằn cỗi và phủ xanh đất trống. Hoạt động này tạo việc làm ổn định cho hàng vạn lao động nông thôn tại các huyện miền núi như Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập và Đoan Hùng. Việc trồng cây nguyên liệu giấy vừa đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước vừa hạn chế gánh nặng nhập khẩu bột giấy. Bên cạnh hiệu quả kinh tế trực tiếp, hệ sinh thái rừng trồng còn góp phần bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn và giữ vững cân bằng môi trường sinh thái.

II. Phân tích lợi ích kinh tế của nông dân trồng cây giấy tại Phú Thọ

Thực tế giai đoạn từ năm 2005 đến nay cho thấy việc chuyển đổi cơ cấu cây nguyên liệu giấy tại tỉnh Phú Thọ đã nâng cao rõ rệt thu nhập cho các hộ gia đình. Tỷ trọng diện tích trồng keo lai và bạch đàn cành tăng nhanh thay thế dần các diện tích cây bản địa năng suất thấp. Năng suất rừng trồng tăng từ 10 đến 15 m3 mỗi ha mỗi năm lên mức 20 đến 25 m3 mỗi ha mỗi năm. Lợi nhuận bình quân của hộ nông dân đạt từ 15 đến 25 triệu đồng trên mỗi hecta trong một năm khai thác. Tuy nhiên, phân phối lợi ích kinh tế trong toàn bộ chuỗi giá trị vẫn còn nhiều bất cập đáng kể. Nông dân là chủ thể trực tiếp bỏ vốn và công sức nhưng thường nhận được tỷ suất lợi nhuận thấp nhất so với thương lái và cơ sở chế biến trung gian. Tình trạng ép giá vào thời điểm rộ vụ khai thác vẫn diễn ra khá phổ biến. Thêm vào đó, thiếu vốn đầu tư thâm canh khiến nhiều hộ phải bán non rừng trồng khi cây chưa đạt độ tuổi tối ưu. Việc tiếp cận tín dụng ưu đãi dài hạn cho sản xuất lâm nghiệp vẫn còn gặp nhiều rào cản thủ tục.

2.1. Đánh giá thu nhập và tích lũy vốn của hộ nông dân

Thu nhập từ rừng trồng nguyên liệu giấy chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng thu nhập của hộ nông dân miền núi Phú Thọ. Bình quân mỗi chu kỳ khai thác từ 5 đến 7 năm, một hộ sở hữu từ 2 đến 3 ha rừng có thể thu về hàng trăm triệu đồng tiền lãi. Nguồn thu này giúp người dân tái đầu tư sản xuất, xây dựng nhà cửa kiên cố và cải thiện chất lượng cuộc sống. Tuy vậy, khả năng tích lũy vốn tự thân của đa số hộ vẫn ở mức trung bình do chi phí cây giống, phân bón và nhân công vận chuyển ngày càng tăng. Chu kỳ kinh doanh kéo dài khiến dòng tiền của hộ gia đình không đều đặn.

2.2. Hạn chế trong liên kết chuỗi giá trị và thị trường

Mối liên kết giữa doanh nghiệp chế biến giấy và hộ trồng rừng tại Phú Thọ chưa thực sự bền chặt. Hợp đồng bao tiêu sản phẩm thường thiếu tính ràng buộc pháp lý chặt chẽ khi giá thị trường biến động. Đa phần hộ nông dân bán gỗ tự do cho tư thương thu gom tại bãi hoặc bán cả vạt rừng theo hình thức ước lượng. Sự thiếu hụt thông tin thị trường khiến người sản xuất luôn chịu thiệt thòi trong đàm phán giá cả. Ngoài ra, việc phân định ranh giới đất rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở một số địa bàn miền núi còn chậm trễ, cản trở việc thế chấp vay vốn phát triển rừng gỗ lớn.

III. Giải pháp tăng lợi ích kinh tế cho nông dân trồng cây gỗ ở Phú Thọ

Để gia tăng lợi ích kinh tế bền vững cho hộ nông dân trồng cây nguyên liệu giấy, tỉnh Phú Thọ cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp kinh tế và kỹ thuật. Trọng tâm hàng đầu là hoàn thiện quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung gắn kết mật thiết với các cơ sở chế biến sâu. Tỉnh cần khuyến khích chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình rừng gỗ nhỏ chu kỳ ngắn sang mô hình rừng gỗ lớn có chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC. Việc kéo dài chu kỳ kinh doanh lên 8 đến 10 năm sẽ nâng cao giá trị gia tăng của gỗ thương phẩm lên gấp 1,5 đến 2 lần. Chính quyền địa phương cần đẩy mạnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận các gói tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp và thời hạn vay linh hoạt. Cùng với đó, chính sách hỗ trợ chuyển giao khoa học công nghệ, phổ biến giống nuôi cấy mô chất lượng cao có khả năng chống chịu sâu bệnh cần được ưu tiên hàng đầu. Xây dựng các hợp tác xã lâm nghiệp kiểu mới sẽ giúp nông dân tập hợp quy mô và nâng cao năng lực thương lượng giá bán.

3.1. Hoàn thiện chính sách đất đai và hỗ trợ vốn tín dụng

Chính quyền các cấp tại Phú Thọ cần đẩy nhanh tiến độ giao đất, giao rừng và cấp quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân. Đất đai ổn định là cơ sở pháp lý để người dân yên tâm đầu tư vốn dài hạn và trồng rừng thâm canh. Các ngân hàng thương mại và Ngân hàng Chính sách Xã hội cần xây dựng sản phẩm cho vay chuyên biệt cho lâm nghiệp với chu kỳ vay phù hợp với vòng đời sinh trưởng của cây gỗ. Việc đơn giản hóa thủ tục thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay trên đất rừng sẽ tháo gỡ điểm nghẽn về vốn cho người dân, hạn chế triệt để tình trạng bán rừng non.

3.2. Đổi mới mô hình liên kết và ứng dụng khoa học kỹ thuật

Cần xây dựng mô hình liên kết khép kín giữa doanh nghiệp chế biến giấy và hộ nông dân thông qua hợp tác xã lâm nghiệp. Doanh nghiệp cung ứng giống, kỹ thuật, vốn ứng trước và ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với giá sàn bảo hiểm rủi ro. Các cơ quan khuyến lâm cần tăng cường tập huấn kỹ thuật tỉa cành, bón phân cân đối và phòng trừ sâu bệnh hại rừng trồng. Đưa các dòng keo lai mô và bạch đàn chuyển gen năng suất cao vào sản xuất đại trà sẽ giúp rút ngắn thời gian sinh trưởng, tăng trữ lượng gỗ trên mỗi hecta và tối ưu hóa lợi nhuận kinh tế cho hộ gia đình.

IV. Kết luận định hướng phát triển cây nguyên liệu giấy ở tỉnh Phú Thọ

Chuyển đổi cơ cấu cây nguyên liệu giấy là hướng đi đúng đắn, mang lại lợi ích kinh tế thiết thực và lâu dài cho hộ nông dân tỉnh Phú Thọ. Quá trình này góp phần giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn vùng trung du miền núi. Để bảo đảm lợi ích kinh tế của người sản xuất trong giai đoạn mới, địa phương cần chuyển đổi tư duy từ sản xuất lâm nghiệp đơn thuần sang phát triển kinh tế lâm nghiệp nhiều giá trị. Sự kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích cá nhân của hộ trồng rừng với lợi ích của doanh nghiệp chế biến và lợi ích xã hội là nguyên tắc cốt lõi bảo đảm sự phát triển bền vững. Nghiên cứu thực tiễn tại Phú Thọ cung cấp các luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoạch định chính sách phát triển lâm nghiệp tại các tỉnh Trung du và Miền núi Bắc Bộ. Nắm bắt tốt cơ hội thị trường và nâng cao năng lực quản trị sẽ giúp nông dân làm giàu vững chắc từ đất rừng quê hương.

4.1. Bài học kinh nghiệm trong phân phối lợi ích kinh tế

Thực tiễn phát triển cây nguyên liệu giấy tại Phú Thọ khẳng định nguyên tắc bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên tham gia thị trường. Mọi chính sách phát triển lâm nghiệp chỉ đạt hiệu quả cao khi người nông dân thực sự là người hưởng lợi xứng đáng từ công sức lao động và tư liệu sản xuất của mình. Phân chia lợi nhuận công bằng giữa khâu trồng, thu mua, chế biến và tiêu thụ là điều kiện tiên quyết giữ vững vùng nguyên liệu ổn định. Việc tôn trọng quy luật giá trị và quy luật cung cầu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ ngăn ngừa tình trạng phá vỡ quy hoạch trồng rừng.

4.2. Khả năng nhân rộng mô hình kinh tế lâm nghiệp hiệu quả

Mô hình chuyển đổi cơ cấu cây nguyên liệu giấy gắn với liên kết chuỗi giá trị tại Phú Thọ có thể áp dụng linh hoạt cho nhiều địa phương có điều kiện tương đồng như Tuyên Quang, Yên Bái hay Thái Nguyên. Việc kết hợp trồng rừng gỗ lớn với cấp chứng chỉ rừng FSC mở ra tiềm năng xuất khẩu viên nén gỗ, dăm gỗ và bột giấy sang các thị trường cao cấp. Ứng dụng công nghệ quản lý rừng số hóa giúp hộ nông dân theo dõi sinh trưởng và dự báo giá bán chính xác. Đây là giải pháp đột phá giúp nâng cao vị thế và thu nhập ổn định cho người trồng rừng trong dài hạn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths ktct lợi ích kinh tế của nông dân trong chuyển đổi cơ cấu cây nguyên liệu giấy ở tỉnh phú thọ hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NÔNG DÂN TRONG CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CÂY NGUYÊN LIỆU GIẤY 1. M ột số khái niệm cơ bản 1. Lợi ích kinh tế của hộ nông dân trồng cây nguyên liệu giấy 1. Khái niệm lợi ích kinh tế Khi bàn về vấn đề lợi ích kinh tế, các nhà nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau đã nêu lên những khái niệm về lợi ích kinh tế: Hàn Phi - nhà triết học cổ Trung Quốc coi lợi ích vật chất là cơ sở của tất cả các mối quan hệ xã hội và chi phối mọi hành vi của con người.

Trong bộ “Tư bản”, C.Mác cho rằng “nói về người…chỉ là người tượng trưng cho một phạm trù kinh tế, là người mang những quan hệ giai cấp và lợi ích nhất định”. Ca- man-kin, trong tác phẩm: “Các lợi ích kinh tế dưới chủ nghĩa xã hội” của mình, cho rằng thực chất của lợi ích kinh tế có thể trình bày như sau: “Lợi ích kinh tế của một chủ thể nhất định là sự tác động lẫn nhau giữa các nhu cầu kinh tế của chủ thể đó”. Ở Việt Nam, tác giả Đào Duy Tùng cho rằng: Lợi ích kinh tế là cái biểu hiện những động cơ, mục đích, những nhân tố kích thích khách quan thúc đẩy hoạt động lao động của con người. Lợi ích kinh tế gắn chặt với nhu cầu kinh tế, vì có nhu cầu mới có lợi ích.

Nhưng sẽ là không đúng nếu đồng nhất nhu cầu với lợi ích kinh tế…lợi ích kinh tế không phải là nhu cầu nói chung mà là việc thỏa mãn nhu cầu một cách tốt nhất, bao gồm cả nội dung của nhu cầu và phương thức thỏa mãn nhu cầu. Vì suy cho cùng cái thúc đẩy người ta hành động chính 10 là thỏa mãn trên thực tế nhu cầu một cách tối ưu…Có người hiểu lợi ích kinh tế như là sự thống nhất giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan. Theo chúng tôi, lợi ích kinh tế là phạm trù kinh tế khách quan, nó phát sinh và tồn tại trên cơ sở một quan hệ sản xuất nhất định, không tùy thuộc vào ý muốn con người…Lợi ích kinh tế tồn tại không tùy thuộc ở chỗ người ta có nhận thức được nó hay không, mà do địa vị của họ trong hệ thống sản xuất - xã hội quy định. Vì vậy, về bản chất phải khẳng định rằng, lợi ích kinh tế là tồn tại khách quan.

Tác giả Khoa Minh lại cho rằng: Lợi ích kinh tế là sự biểu hiện của những quan hệ kinh tế đối với việc thõa mãn những nhu cầu vật chất cần thiết cho đời sống dưới hình thức mục đích xác định của hoạt động kinh tế của con người… Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện cụ thể các quan hệ kinh tế và quy luật phản ánh các quan hệ kinh tế đó. Như vậy, từ những phân tích khái quát trên có thể hiểu, lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, được quy định bởi hệ thống các quan hệ kinh tế nhất định và biểu hiện mối quan hệ lẫn nhau giữa sản xuất vật chất và nhu cầu vật chất. Lợi ích kinh tế, trong ý nghĩa khách quan của nó, là những khoản thu nhập được ấn định bởi các quan hệ kinh tế nhằm đảm bảo cho các chủ thể kinh tế tồn tại, hoạt động và phát triển. Lợi ích kinh tế có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, lợi ích kinh tế luôn gắn với nhu cầu kinh tế, là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

Lợi ích và nhu cầu của con người luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, bởi lẽ lợi ích là sự hiện thực hóa nhu cầu, đáp ứng nhu cầu của con người. Như vậy, xét một cách khái quát, lợi ích là mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài với nhu cầu của chủ thể, là điều kiện để thỏa mãn về nhu cầu nhất định của con người. 11 Thứ hai, lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, bắt nguồn từ các quan hệ kinh tế của các chủ thể mang những lợi ích nhất định. Nói đến lợi ích kinh tế là nói đến quan hệ phân phối kết quả sản xuất hình thành thu nhập của những người tham gia vào quá trình sản xuất xã hội.

Mác thì quan hệ phân phối này lại phụ thuộc vào quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất. Mỗi quan hệ sản xuất có một phương thức phân phối do đó có một hình thức thực hiện lợi ích kinh tế. Tính chất của lợi ích kinh tế là do quan hệ sản xuất quyết định, mà quan hệ sản xuất này lại do trình độ của lực lượng sản xuất quyết định. Vì vậy lợi ích kinh tế có tính khách quan.

Thứ ba, lợi ích kinh tế luôn mang tính lịch sử Lợi ích kinh tế là sự hiện thực hóa các nhu cầu. Song không phải mọi nhu cầu của con người đều có khả năng hiện thực hóa mà chỉ có nhu cầu nào xuất phát từ chính năng lực đáp ứng của nền sản xuất xã hội mới được hiện thực hóa.Mác: “quy mô của nhu cầu được gọi là tất yếu và những phương thức để thỏa mãn nhu cầu ấy chính là sản phẩm của lịch sử và phụ thuộc phần lớn vào trình độ văn hóa của đất nước”. Vì vậy, lợi ích kinh tế phụ thuộc vào hoàn cảnh của đất nước trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Lợi ích kinh tế là một trong những hiện tượng phổ biến nhất của đời sống xã hội.

Nó gần gũi trong quan niệm và hành động hằng ngày của quảng đại quần chúng. Lợi ích kinh tế là một trong những vấn đề sống còn của sản xuất và đời sống xã hội. Lịch sử đã chứng minh, động lực thúc đẩy con người hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội không phải là cái gì khác ngoài lợi ích của họ. Chính lợi ích đó đã gắn bó con người với cộng đồng của mình và tạo ra ở con người những sự kích thích, thôi thúc, khát vọng và sự say mê trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Bất cứ hoạt động nào của con người cũng bị chi phối bởi hai động lực chính đó là động lực vật chất và động lực tinh thần. Để đạt được những kết quả 12 cao trong hoạt động kinh tế, không chỉ duy nhất là hoạt động kinh tế, mà còn cả động lực tinh thần. Nhưng, ở đây hoạt động kinh tế luôn giữ vai trò quyết định nhất, là động lực quan trọng thúc đẩy hoạt động của con người. Cho nên, các chính sách kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế bao giờ cũng đặc biệt quan tâm đến lợi ích thiết thực của người lao động, tức là lợi ích kinh tế, vì nó luôn là động lực kích thích đối với con người, đối với tập thể và đối với toàn xã hội.

Đồng tời, khi lợi ích kinh tế được thực hiện thì nó cũng tạo cơ sở, tiền đề để thực hiện các loại lợi ích khác. Đời sống xã hội phồn vinh thì đời sống tinh thần mới được nâng cao. Lợi ích kinh tế còn có vai trò quan trọng trong việc củng cố, duy trì các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh. Một khi con người (chủ thể) tham gia vào các hoạt động kinh tế đều nhằm đạt tới các lợi ích nhất định.

Đạt được những lợi ích tương xứng với kết quả SXKD thì mới đảm bảo nâng cao tính ổn định và sự phát triển của các chủ thể lợi ích. Ngược lại, khi không mang lại lợi ích hoặc lợi ích không được thực hiện đầy đủ thì sẽ làm cho mối quan hệ giữa các chủ thể xuống cấp. Nếu tình trạng đó kéo dài thì sớm muộn sẽ dẫn đến tình trạng tiêu cực trong hoạt động SXKD. Từ sự phân tích trên, ta thấy lợi ích vật chất có vai trò vô cùng quan trọng, có tính chất quyết định trong sự phát triển xã hội vì những lẽ sau: Lợi ích kinh tế là cơ sở, điều kiện đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người.

Xã hội vận động về cơ bản là vận động thông qua việc thực hiện các lợi ích kinh tế. - Các quan hệ kinh tế giữ vai trò quyết định và chi phối đời sống chính trị, tư tưởng của xã hội một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. - Vì động lực lợi ích kinh tế là nền tảng, là cơ sở cho việc hình thành và giải quyết các động lực lợi ích khác của con người, cho nên đòi hỏi chúng ta phải giải quyết hợp lý quan hệ lợi ích kinh tế và không ngừng nâng cao lợi ích 13 kinh tế cho con người để tạo cơ sở cho việc giải quyết mọi vấn đề khác của đời sống xã hội. - Để kích thích tính tích cực ở mức độ cao nhát, cần quan tâm đặc biệt đến lợi ích kinh tế, đồng thời không quên các lợi ích khác của mỗi cá nhân.

Sự kết hợp đó không chỉ khai thác được thế mạnh của lợi ích kinh tế mà cả thế mạnh của các lợi ích khác và thế mạnh tương hỗ giữa các lợi ích đó trong mỗi con người. - Quan tâm đến lợi ích cá nhân, tạo điều kiện để mỗi người lao động có thể thực hiện được lợi ích cá nhân của mình, nhưng không khuyến khích họ thực hiện lợi ích cá nhân bằng mọi cách. Việc khuyến khích lợi ích kinh tế cá nhân phải nằm trong mối quan hệ hài hòa với các lợi ích kinh tế khác (lợi ích kinh tế tập thể và lợi ích kinh tế xã hội), nghĩa là quan tâm đến lợi ích kinh tế cá nhân phải đặt trong mối quan hệ không làm tổn hại đến lợi ích xã hội và lợi ích tập thể. Lợi ích kinh tế của người nông dân Trong hoạt động hàng ngày của mình, người nông dân quan tâm đến nhiều lợi ích khác nhau như những giai cấp khác trong xã hội nhưng trước hết và chủ yếu vẫn là lợi ích kinh tế.

Lợi ích kinh tế của nông dân trên thực tế được biểu hiện rất đa dạng song chủ yếu vẫn thể hiện ở ba nhóm lợi ích chủ yếu, gồm: - Lợi ích trong mối quan hệ sở hữu hoặc sử dụng đối với các TLSX mà mình có được hoặc được giao. - Lợi ích trong việc quản lý, tổ chức sản xuất canh tác trên các TLSX mà mình có quyền chiếm hữu hoặc có quyền sử dụng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ