Luận văn thạc sĩ: Việc làm để giảm nghèo bền vững ở TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất giải pháp tạo việc làm nhằm thúc đẩy giảm nghèo bền vững tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

106
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan việc làm để giảm nghèo bền vững ở Thành phố Hồ Chí Minh

Việc làm giữ vai trò cốt lõi trong chiến lược phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo tại các đô thị lớn. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, vấn đề việc làm gắn liền với mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội toàn diện. Dưới góc độ kinh tế chính trị, giải quyết việc làm không chỉ đơn thuần là phân bổ sức lao động. Quá trình này còn tạo ra giá trị thặng dư, tái sản xuất sức lao động và nâng cao đời sống dân cư. Đô thị hóa nhanh và làn sóng nhập cư gia tăng tạo sức ép lớn lên thị trường lao động đô thị. Việc làm bền vững đòi hỏi môi trường làm việc an toàn, thu nhập thỏa đáng và chế độ bảo hiểm đầy đủ. Thành phố đã tiên phong áp dụng chuẩn nghèo đa chiều để đánh giá thực chất đời sống người dân. Chuẩn nghèo này bao gồm tiêu chí thu nhập và mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế, nhà ở. Tạo việc làm chất lượng cao là động lực then chốt để các hộ nghèo tự vươn lên thoát nghèo. Chính sách việc làm đúng đắn sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.

1.1. Khái niệm và vai trò của việc làm trong giảm nghèo

Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập hợp pháp cho cá nhân và xã hội. Trong tiến trình giảm nghèo, việc làm ổn định cung cấp nguồn tài chính trực tiếp giúp người lao động trang trải sinh hoạt phí. Nguồn thu nhập này hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và nhà ở đạt chuẩn. Lao động có việc làm cũng nâng cao vị thế xã hội và xây dựng tính tự chủ kinh tế. Ngược lại, thiếu việc làm hoặc việc làm bấp bênh là nguyên nhân chính dẫn tới bẫy nghèo đói kéo dài. Do đó, chính sách an sinh cần tập trung tạo việc làm bền vững thay vì trợ cấp đơn thuần. Đây là nền tảng cốt lõi để nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư.

1.2. Chuẩn nghèo đa chiều và đặc thù tại Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng chuẩn nghèo đa chiều với các tiêu chí khắt khe hơn mức chuẩn quốc gia. Chuẩn nghèo này kết hợp giữa mức thu nhập bình quân đầu người và 5 chiều thiếu hụt dịch vụ cơ bản. Các chiều thiếu hụt bao gồm y tế, giáo dục, việc làm, điều kiện sống và tiếp cận thông tin. Đặc thù đô thị đòi hỏi mức sống và chi phí sinh hoạt cao hơn khu vực nông thôn. Hộ cận nghèo tại thành phố đối mặt với nhiều áp lực chi tiêu và rủi ro tái nghèo nếu mất việc làm. Đánh giá đa chiều giúp chính quyền thành phố thiết kế chính sách hỗ trợ đúng đối tượng và trúng nhu cầu. Mục tiêu trọng tâm là giảm nghèo thực chất và bảo đảm an sinh lâu dài.

II. Thực trạng việc làm để giảm nghèo bền vững ở Thành phố Hồ Chí Minh

Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện sự năng động vượt trội cùng quy mô lực lượng lao động dồi dào. Hàng năm, thành phố tiếp nhận lượng lớn lao động nhập cư từ các tỉnh lân cận và hàng chục nghìn sinh viên tốt nghiệp. Tuy nhiên, cơ cấu chất lượng nguồn nhân lực vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập. Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể. Lao động thuộc hộ nghèo chủ yếu làm việc trong khu vực phi chính thức với tính chất mùa vụ, không có hợp đồng và thu nhập bấp bênh. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm cục bộ vẫn tồn tại ở nhóm lao động yếu thế và thanh niên. Bên cạnh đó, tốc độ đô thị hóa nhanh thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, khiến nhiều lao động ngoại thành gặp khó khăn khi chuyển đổi ngành nghề. Sự bất đối xứng thông tin giữa doanh nghiệp tuyển dụng và người tìm việc cản trở kết nối cung cầu. Những rào cản này làm suy giảm hiệu quả của các chương trình mục tiêu giảm nghèo bền vững của thành phố.

2.1. Cơ cấu lao động và chất lượng việc làm của người nghèo

Phần lớn lao động nghèo tại Thành phố Hồ Chí Minh tập trung vào các nhóm nghề giản đơn và thủ công. Họ làm việc chủ yếu trong ngành xây dựng, dịch vụ ăn uống nhỏ lẻ hoặc buôn bán vỉa hè. Mức thu nhập từ các công việc này thường thấp và không đủ bù đắp chi phí sinh hoạt đô thị đắt đỏ. Người lao động hầu như không được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tự nguyện hay bảo hiểm thất nghiệp. Trình độ học vấn thấp và thiếu kỹ năng chuyên môn hạn chế cơ hội tiếp cận việc làm chính thức tại các doanh nghiệp lớn. Thực trạng này khiến nguy cơ tái nghèo luôn ở mức cao khi xuất hiện biến cố sức khỏe hoặc suy thoái kinh tế.

2.2. Hạn chế trong công tác kết nối việc làm và đào tạo nghề

Hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm và mạng lưới đào tạo nghề chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu thực tế của thị trường. Nhiều chương trình đào tạo nghề ngắn hạn cho người nghèo còn mang tính hình thức và thiếu gắn kết với doanh nghiệp. Các ngành nghề đào tạo chưa bắt kịp xu hướng phát triển công nghệ cao và kinh tế số của đô thị. Nguồn vốn vay ưu đãi giải quyết việc làm tuy mở rộng nhưng thủ tục hành chính đôi lúc còn phức tạp. Hoạt động tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho thanh niên hộ nghèo chưa đạt hiệu quả sâu rộng tại cấp cơ sở. Việc kết nối thông tin thị trường lao động vẫn tồn tại nhiều khoảng trống lớn.

III. Giải pháp việc làm để giảm nghèo bền vững ở Thành phố Hồ Chí Minh

Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, Thành phố Hồ Chí Minh cần triển khai đồng bộ hệ thống giải pháp kinh tế và xã hội. Trước hết, thành phố cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ chất lượng cao và công nghiệp công nghệ cao. Chiến lược này sẽ tạo ra nhiều vị trí việc làm có năng suất và giá trị gia tăng lớn. Đồng thời, chính quyền cần hoàn thiện chính sách hỗ trợ vốn vay tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội. Nguồn vốn này giúp các hộ nghèo và cận nghèo tự tạo việc làm, mở rộng sản xuất kinh doanh nhỏ. Việc phát triển các mô hình kinh tế tập thể, hợp tác xã tại khu vực ven đô cũng mở ra hướng đi sinh kế mới. Bên cạnh đó, thành phố cần củng cố hệ thống an sinh xã hội và mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội tự nguyện. Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp là điều kiện tiên quyết để bảo đảm việc làm lâu dài.

3.1. Đổi mới đào tạo nghề gắn với nhu cầu của doanh nghiệp

Đổi mới nội dung và phương thức đào tạo nghề là chìa khóa nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nghèo. Cơ sở dạy nghề cần chủ động liên kết với các doanh nghiệp, khu công nghiệp và khu chế xuất trên địa bàn. Việc đào tạo phải bám sát tiêu chuẩn tuyển dụng và nhu cầu nhân lực thực tế của thị trường. Thành phố cần ban hành chính sách miễn giảm học phí và cấp học bổng nghề cho học viên diện nghèo. Doanh nghiệp tiếp nhận lao động nghèo sau đào tạo cần được hưởng ưu đãi thuế hoặc hỗ trợ tài chính. Mô hình vừa học vừa làm giúp người lao động vừa có thu nhập vừa hoàn thiện kỹ năng tay nghề vững chắc.

3.2. Mở rộng tín dụng chính sách và hỗ trợ khởi nghiệp nhỏ

Nguồn vốn tín dụng ưu đãi đóng vai trò đòn bẩy tài chính quan trọng cho hộ nghèo phát triển kinh tế gia đình. Ngân hàng Chính sách Xã hội cần đơn giản hóa quy trình vay vốn và nâng hạn mức cho vay giải quyết việc làm. Cán bộ cơ sở cần hướng dẫn chi tiết phương án sử dụng vốn vay và kỹ năng quản lý tài chính hộ. Thành phố nên hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật, công nghệ sản xuất và xúc tiến đầu ra cho sản phẩm tiểu thủ công nghiệp. Mô hình hỗ trợ phụ nữ và thanh niên khởi nghiệp tại địa phương cần được nhân rộng để tạo việc làm tại chỗ bền vững cho cư dân.

IV. Ý nghĩa việc làm để giảm nghèo bền vững ở Thành phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu việc làm để giảm nghèo bền vững tại Thành phố Hồ Chí Minh mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Dưới lăng kính kinh tế chính trị, giải quyết việc làm chính là phương thức căn bản nhất để phân phối lại của cải và thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chính sách xây dựng chương trình an sinh đô thị phù hợp. Đề tài luận văn khẳng định vai trò trung tâm của con người trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa thành phố. Việc thực hiện hiệu quả các giải pháp việc làm không chỉ giúp người dân thoát nghèo về mặt thu nhập mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống toàn diện. Đây là nền tảng để xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh, văn minh, hiện đại và nghĩa tình. Sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp sẽ hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo đa chiều bền vững.

4.1. Giá trị tham khảo cho công tác hoạch định chính sách

Các phát hiện từ nghiên cứu cung cấp góc nhìn toàn diện cho các cơ quan quản lý nhà nước tại đô thị. Sở Lao động Thương binh và Xã hội cùng Ban chỉ đạo giảm nghèo có thể ứng dụng các đề xuất vào kế hoạch hàng năm. Dữ liệu phân tích giúp địa phương nhận diện chính xác các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất trên thị trường lao động. Từ đó, thành phố có thể phân bổ nguồn lực ngân sách một cách tối ưu và tránh lãng phí. Chính sách an sinh sẽ chuyển dần từ cứu trợ bị động sang hỗ trợ năng lực tự chủ cho người lao động, tạo chuyển biến tích cực.

4.2. Khả năng nhân rộng mô hình tại các đô thị đang phát triển

Bài học kinh nghiệm về tạo việc làm giảm nghèo tại Thành phố Hồ Chí Minh có thể áp dụng rộng rãi cho các đô thị khác tại Việt Nam. Các thành phố như Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng hay Cần Thơ đều đối mặt với thách thức tương tự về áp lực di cư và lao động phi chính thức. Mô hình kết hợp đào tạo nghề theo đơn đặt hàng, hỗ trợ tín dụng vi mô và bảo trợ an sinh đa chiều là giải pháp có tính khả thi cao. Sự thích ứng linh hoạt theo bối cảnh kinh tế địa phương sẽ giúp thúc đẩy quá trình giảm nghèo quốc gia diễn ra nhanh và bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths ktch việc làm để giảm nghèo bền vững ở thành phố hồ chí minh hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM ĐỂ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Lý luận về việc làm và giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm việc làm và vai trò của việc làm * Khái niệm việc làm Việc làm trước hết là biểu hiện của hoạt động lao động sản xuất ở mỗi người lao động. Giống như lao động, việc làm cũng phản ánh mối quan hệ giữa người lao động với tự nhiên vì để làm việc người lao động cũng phải sử dụng sức của mình kết hợp với công cụ lao động tác động có ý thức, có mục đích lên đối tượng lao động biến chúng thành của cải để phục vụ nhu cầu của con người.

Khi nói đến việc làm là bao gồm các yếu tố người lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Người lao động với kỹ năng chuyên môn kết hợp với tư liệu sản xuất, hoạt động trong một lĩnh vực của cơ cấu kinh tế xã hội thì được gọi là việc làm. Người lao động có việc làm là người đóng góp vai trò của mình trong cơ cấu chung đó. Vì vậy việc làm cũng chịu sự tác động của các quy luật kinh tế và xã hội.

Việc làm là một phạm trù tổng hợp, liên kết các quá trình kinh tế, xã hội. Ở khía cạnh xã hội, việc làm phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người trong một phạm vi mà ở đó quá trình lao động được diễn ra, là cơ sở để các mối quan hệ xã hội tồn tại đan xen, liên kết với nhau phát triển theo hướng lành mạnh. Ở khía cạnh kinh tế, việc làm thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con người và yếu tố vật chất trong lao động sản xuất. Vấn đề việc làm là một vấn đề kinh tế xã hội phức tạp.

Đó là công việc của mỗi cá nhân nhưng lại gắn liền với xã hội. Có việc làm không những người lao động có thu nhập nuôi sống bản thân mà còn tạo ra một lượng của cải cho xã 10 hội. Điều 9, Chương 2, Phần việc làm của Bộ luật lao động đã được Quốc hội khóa X nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2012 nêu rõ như sau: "Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm". Các hoạt động lao động được xác định là việc làm bao gồm: Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật hay những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình mình, nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc hiện vật ) cho công việc đó.

Từ quy định trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm về việc làm: Việc làm là những hoạt động lao động sản xuất của con người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mang lại thu nhập cho người lao động mà không bị pháp luật ngăn cấm. Quan niệm trên về việc làm là hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở Việt Nam hiện nay. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, người lao động có thể làm bất cứ việc gỉ, ở bất cứ đâu, miễn là không vi phạm pháp luật để mang lại thu nhập và thu nhập cao hơn cho bản thân. Như vậy, các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm: - Tất cả các hoạt động tạo ra của cải vật chất hoặc tinh thần, không bị pháp luật cấm, được trả công bằng tiền hoặc hiện vật.

- Những công việc tự làm để mang lại lợi ích hoặc tạo thu nhập cho bản thân, cho gia đình và cho cộng đồng, kể cả những công việc không được trả lương bằng tiền hoặc hiện vật. Như vậy, việc làm là tất cả những công việc trong nhà máy, công sở, các công việc nội trợ, chăm sóc con cái trong gia đình… Quan niệm về việc làm mở rộng đã tạo khả năng to lớn giải phóng tiềm 11 năng lao động. Thị trường việc làm cũng được mở rộng với tất cả các thành phần kinh tế, các hình thức tổ chức kinh doanh trong và ngoài nước. Người lao động tự do hành nghề, tự do liên doanh, liên kết, thuê mướn theo luật pháp để tạo ra việc làm cho bản thân và xã hội.

Người có việc làm là những người từ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế, mà trong tuần lễ trước điều tra họ là những người: - Đang làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật. - Đang làm công việc không được hưởng tiền lương, tiền công hay lợi nhuận trong các công việc sản xuất kinh doanh của hộ gia đình mình. - Đã có công việc trước đó, song trong tuần lễ trước điều tra tạm thời không làm việc và sẽ trở lại tiếp tục làm việc ngay sau thời gian tạm nghỉ. Căn cứ vào thời gian làm việc thực tế và nhu cầu làm thêm trong tuần lễ trước điều tra, người có việc làm được chia ra: người đủ việc làm và người thiếu việc làm.

Người đủ việc làm: là những người làm việc 40 giờ/tuần trở lên, hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn 40 giờ/tuần, nhưng bằng hoặc lớn hơn giờ quy định đối với những người làm các công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành (30 giờ/tuần), Người thiếu việc làm: là những người làm việc dưới 40 giờ/tuần, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn những người làm các công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành, có nhu cầu làm thêm giờ và sẵn sàng làm việc nhưng không có việc để làm, trừ những người thất nghiệp (dưới 8 giờ/tuần). Ở nước ta, thiếu việc làm là tình trạng phổ biến, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Đây thực sự là một vấn đề bức xúc cần giải quyết trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Khái niệm việc làm đầy đủ chỉ có ý nghĩa tương đối, nó chỉ thể hiện trạng 12 thái có việc làm nhưng chưa thể hiện được tính chất của việc làm.

Việc làm đầy đủ nếu xét riêng lẻ thì không cung cấp thông tin gì về các vấn đề của thị trường lao động như mức thu nhập, tình trạng thiếu việc làm, điều kiện việc làm không đảm bảo hay sự tồn tại của lượng lớn việc làm khu vực phi chính thức. Do đó mục tiêu hướng tới của các quốc gia không chỉ có việc làm đầy đủ mà phải hướng tới việc làm bền vững. Các khía cạnh để nhận biết việc làm bền vững là: cơ hội việc làm đầy đủ, làm việc trong điều kiện tự do, việc làm năng suất, bình đẳng trong công việc, bảo đảm an toàn, bảo đảm nhân phẩm tại nơi làm việc(ILO,2007) * Vai trò của việc làm Việc làm có vai trò rất quan trọng đối với người lao động, đối với đời sống xã hội và đối với nền kinh tế của một quốc gia, cụ thể: Một là, việc làm giúp người lao động có thu nhập, nâng cao mức sống: Điều này có nghĩa là khi người lao động có việc làm sẽ đi đôi với việc họ có thu nhập để nuôi sống bản thân. Có việc làm sẽ duy trì mối quan hệ hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và thu nhập của người lao động.

Việc làm tạo ra cho người lao động cơ hội trao dồi, học hỏi, nắm bắt nâng cao trình độ tay nghề, kiến thức, duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của người lao động. Việc làm được duy trì và phát triển là cơ hội để người lao động ngày càng hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ và nâng cao đời sống. Hai là, việc làm góp phần làm tăng trưởng kinh tế: Sự tăng trưởng nền kinh tế của một đất nước được đánh giá qua sự tăng trưởng GDP hàng năm và để xác định GDP chúng ta phải tính toán trên nhiều yếu tố trong đó có sản lượng hàng hóa được sản xuất ra - quá trình đó chính là việc làm. Như vậy muốn tăng trưởng kinh tế, chúng ta phải làm sao mỗi người lao động đều phải tham gia vào quá trình sản xuất tức là có việc làm đầy đủ và áp dụng công nghệ, khoa học tiến bộ để khai thác triệt để tiềm năng của người lao đọng khi tham gia vào qua trình 13 sản xuất đó.

Ba là, việc làm giúp giải quyết tốt các vấn đề xã hội: hậu quả của việc thất nghiệp, thiếu việc làm sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định xã hội. Khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng nhu cấu việc làm cho người lao động sẽ dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội, ngược lại khi mọi cá nhân trong xã hội đều có việc làm thì xã hội đó rất yên bình vì mọi người không phát sinh mâu thuẫn, không có tệ nạn xã hội, không tạo ra các tiêu cực vì việc làm sẽ giúp con người phát triển trí tuệ và hoàn thiện nhân cách. Ngoài ra khi không có việc làm trong xã hội sẽ tạo ra khoảng cách giàu nghèo vì không có thu nhập, mâu thuẫn lợi ích phát sinh, đây chính là nguyên nhân của nhiều cuộc đấu tranh chính trị giũa các giai cấp trong xã hội. * Những yếu tố ảnh hưởng đến việc làm: - Thứ nhất, điều kiện tự nhiên: Những yếu tố về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái.

ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hoạt động, phát triển và sinh sống của con người. Thực tiễn cho thấy nơi nào điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ thu hút được vốn đầu tư và tạo việc làm cho người lao động, cụ thể: + Vị trí địa lí có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội, do đó ảnh hưởng rất lớn đến nguồn lao động cũng như sự phân bố và sử dụng lao động. Trong lịch sử phát triển kinh tế xã hội đã cho ta thấy, ở khu vực có vị trí thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế, điều này sẽ thu hút dân cư lao động từ khắp mọi nơi đến sinh sống. Điều này cũng đã được chứng minh ở khu vực ven biển thì dân cư tập trung đông đúc hơn so với vùng nằm sâu trong lục địa.

Ở các vùng thuận lợi cho sản xuất và đời sống, thuận lợi cho đô thị hóa phát triển thì nơi đó dân cư và lao động tập trung đông đúc. + Địa hình là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề phân bố dân cư 14 hay nói cách khác ảnh hưởng đến vấn đề phân bố lao động và sự phát triển các hoạt động kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ