Luận văn ThS: Việc làm cho nông dân sau thu hồi đất ở tỉnh Vĩnh Phúc

Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị nghiên cứu thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm cho nông dân sau thu hồi đất tại tỉnh Vĩnh Phúc.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

116
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan việc làm cho nông dân sau thu hồi đất ở tỉnh Vĩnh Phúc

Thu hồi đất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc diễn ra mạnh mẽ nhằm phục vụ các khu công nghiệp và đô thị. Quá trình này giúp thay đổi diện mạo kinh tế địa phương. Tuy nhiên, việc mất đất sản xuất tạo ra áp lực lớn đối với lao động nông thôn. Nông dân mất tư liệu sản xuất chính và phải tìm kiếm sinh kế mới. Dưới góc độ kinh tế chính trị, việc làm cho nông dân sau thu hồi đất là vấn đề cốt lõi bảo đảm tái sản xuất sức lao động và công bằng xã hội. Tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành nhiều đề án giải quyết việc làm giai đoạn 2013-2017 và những năm tiếp theo. Các chính sách tập trung vào đào tạo nghề, hỗ trợ vốn vay và giới thiệu việc làm tại doanh nghiệp. Người lao động nông nghiệp cần được trang bị kỹ năng thích ứng với môi trường công nghiệp hiện đại. Việc bảo đảm việc làm ổn định không chỉ giúp ổn định đời sống nhân dân mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Đây là nhiệm vụ trọng tâm của toàn bộ hệ thống chính trị địa phương.

1.1. Khái niệm và tính cấp thiết về việc làm sau thu hồi đất

Thu hồi đất nông nghiệp làm chấm dứt quan hệ sản xuất nông nghiệp truyền thống của hộ nông dân. Người lao động không còn tư liệu sản xuất chính là ruộng đất. Việc làm sau thu hồi đất được hiểu là các hoạt động tạo ra thu nhập hợp pháp mà người lao động tham gia sau khi chuyển đổi ngành nghề. Tính cấp thiết bắt nguồn từ yêu cầu ổn định đời sống xã hội. Tại Vĩnh Phúc, hàng chục nghìn hecta đất đã chuyển đổi sang đất công nghiệp và dịch vụ. Hàng vạn lao động phải chuyển sang khu vực phi nông nghiệp. Nếu không có việc làm, nguy cơ tái nghèo và bất ổn an ninh trật tự rất dễ phát sinh. Giải quyết tốt vấn đề việc làm là chìa khóa phát triển hài hòa và bền vững.

1.2. Đặc điểm quá trình công nghiệp hóa và thu hồi đất tại Vĩnh Phúc

Vĩnh Phúc là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa tại đây diễn ra nhanh chóng. Địa phương tập trung xây dựng các khu công nghiệp trọng điểm như Khai Quang, Bình Xuyên và Bá Thiện. Điều này kéo theo diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi với quy mô lớn. Phần lớn diện tích bị thu hồi là đất trồng lúa hai vụ màu mỡ. Đa số lao động nông nghiệp bị ảnh hưởng ở độ tuổi trung niên. Trình độ văn hóa và kỹ năng nghề nghiệp của họ còn nhiều hạn chế. Việc chuyển đổi từ tác phong nông nghiệp sang tác phong công nghiệp gặp nhiều rào cản thực tế. Thực trạng này đòi hỏi chính sách hỗ trợ đồng bộ từ phía chính quyền tỉnh.

II. Thực trạng việc làm cho nông dân sau thu hồi đất ở tỉnh Vĩnh Phúc

Thực trạng việc làm cho nông dân sau thu hồi đất ở tỉnh Vĩnh Phúc bộc lộ nhiều chuyển biến tích cực lẫn khó khăn gay gắt. Sau khi nhận tiền đền bù, một bộ phận nông dân đã chủ động đầu tư sản xuất kinh doanh dịch vụ hoặc đi làm tại các khu công nghiệp. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động nông thôn tìm được việc làm ổn định chưa cao. Nhiều hộ gia đình sử dụng tiền bồi thường vào việc xây nhà hoặc mua sắm tiêu dùng cá nhân thay vì tích lũy vốn sản xuất. Tình trạng thiếu việc làm và việc làm bấp bênh vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể. Lao động trên 40 tuổi đối mặt với nguy cơ thất nghiệp cao nhất do các doanh nghiệp FDI ưu tiên tuyển dụng lao động trẻ có tay nghề. Cơ cấu chuyển dịch lao động còn mang tính tự phát và thiếu tính liên kết bền vững. Thêm vào đó, công tác đào tạo nghề chưa gắn liền với nhu cầu thực tế của các nhà đầu tư tại các khu công nghiệp địa phương. Thu nhập bình quân của nhiều hộ sau thu hồi đất chưa thực sự bền vững.

2.1. Khó khăn trong chuyển đổi nghề nghiệp của lao động lớn tuổi

Lao động từ 40 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ lớn trong nhóm mất đất nông nghiệp tại Vĩnh Phúc. Nhóm đối tượng này có thói quen canh tác lâu năm và khó tiếp thu kỹ thuật mới. Trình độ học vấn của họ nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hiện đại. Các doanh nghiệp trong khu công nghiệp thường từ chối tuyển dụng nhóm lao động này vào dây chuyền sản xuất chính. Họ buộc phải tìm kiếm việc làm thời vụ, tự do hoặc buôn bán nhỏ lẻ. Thu nhập từ công việc bấp bênh không bù đắp được chi phí sinh hoạt ngày càng tăng. Vấn đề an sinh xã hội cho người già và trung niên mất đất trở thành thách thức lớn.

2.2. Hạn chế trong công tác đào tạo nghề và sử dụng vốn bồi thường

Công tác đào tạo nghề cho nông dân mất đất tại địa phương còn bộc lộ nhiều bất cập. Các lớp học nghề chủ yếu dạy các nghề truyền thống hoặc kỹ năng cơ bản, chưa đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp FDI. Nhiều nông dân sau khi học nghề vẫn không tìm được việc làm phù hợp. Bên cạnh đó, việc định hướng sử dụng vốn đền bù giải phóng mặt bằng chưa hiệu quả. Phần lớn nông dân thiếu kiến thức quản lý tài chính và kinh nghiệm kinh doanh. Tiền bồi thường nhanh chóng bị phân tán vào tiêu dùng hàng ngày hoặc xây dựng nhà cửa. Khi hết tiền, người dân rơi vào cảnh không đất sản xuất và không có nguồn thu nhập thường xuyên.

III. Giải pháp việc làm cho nông dân sau thu hồi đất ở tỉnh Vĩnh Phúc

Nhằm giải quyết triệt để vấn đề việc làm cho nông dân sau thu hồi đất, tỉnh Vĩnh Phúc cần thực hiện đồng bộ các giải pháp kinh tế - xã hội. Trước hết, địa phương phải hoàn thiện cơ chế chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo hướng bảo đảm sinh kế lâu dài. Tỉnh cần gắn trách nhiệm tuyển dụng lao động địa phương đối với các doanh nghiệp đầu tư vào khu công nghiệp. Các chương trình đào tạo nghề phải được đổi mới căn bản, chuyển từ đào tạo theo khả năng sang đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp. Nâng cao vai trò của hệ thống tín dụng chính sách là giải pháp quan trọng giúp nông dân tiếp cận vốn vay ưu đãi. Nguồn vốn này hỗ trợ chuyển đổi mô hình kinh tế trang trại, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại. Đồng thời, chính quyền địa phương cần đẩy mạnh công tác tư vấn, hướng dẫn quản lý tài chính cho các hộ gia đình nhận tiền bồi thường. Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước, doanh nghiệp và người lao động là yếu tố quyết định thành công.

3.1. Đổi mới mô hình đào tạo nghề gắn với nhu cầu của doanh nghiệp

Đào tạo nghề cần xuất phát từ nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Vĩnh Phúc. Tỉnh cần xây dựng cơ chế liên kết ba bên gồm Nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp sử dụng lao động. Doanh nghiệp cần tham gia trực tiếp vào việc xây dựng giáo trình và tiếp nhận thực tập sinh. Các khóa đào tạo kỹ năng mềm và tác phong công nghiệp cần được chú trọng bổ sung. Đối với lao động trung niên, địa phương nên ưu tiên dạy các nghề tiểu thủ công nghiệp hoặc chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp công nghệ cao. Hình thức đào tạo cần linh hoạt về thời gian và địa điểm để nông dân dễ dàng theo học.

3.2. Hỗ trợ nguồn vốn tín dụng và định hướng sinh kế bền vững

Nguồn vốn tín dụng ưu đãi giữ vai trò đòn bẩy giúp nông dân phát triển sinh kế mới. Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Vĩnh Phúc cần mở rộng hạn mức cho vay đối với các hộ mất đất sản xuất. Thủ tục vay vốn cần được đơn giản hóa để người dân nhanh chóng tiếp cận nguồn lực tài chính. Cán bộ khuyến nông và chuyên gia kinh tế cần trực tiếp hướng dẫn nông dân xây dựng phương án sản xuất hiệu quả. Địa phương nên khuyến khích các mô hình kinh tế hợp tác, dịch vụ hậu cần phục vụ khu công nghiệp và xuất khẩu lao động có thời hạn. Việc kiểm soát dòng vốn giúp người dân sử dụng tiền đúng mục đích và sinh lời.

IV. Định hướng việc làm cho nông dân sau thu hồi đất ở tỉnh Vĩnh Phúc

Giải quyết việc làm cho nông dân sau thu hồi đất tại tỉnh Vĩnh Phúc là nhiệm vụ chiến lược và lâu dài. Quá trình này đòi hỏi tầm nhìn kinh tế chính trị toàn diện, kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng công nghiệp và bảo đảm an sinh xã hội. Các nghiên cứu từ luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để các cấp chính quyền tham khảo và ban hành chính sách phù hợp. Việc triển khai các giải pháp đồng bộ sẽ giúp nông dân nhanh chóng ổn định đời sống, hòa nhập vào guồng quay kinh tế hiện đại. Tỉnh Vĩnh Phúc có thể trở thành hình mẫu tiêu biểu trong công tác chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn nếu kiên trì thực hiện các định hướng đề ra. Sự thành công của chính sách không chỉ đo bằng tốc độ gia tăng các khu công nghiệp mà còn thể hiện qua mức độ hài lòng và chất lượng cuộc sống của người nông dân mất đất. Tương lai phát triển bền vững phụ thuộc vào hiệu quả của chiến lược con người này.

4.1. Giá trị ứng dụng thực tiễn của luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị

Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị về đề tài này mang lại giá trị thực tiễn to lớn cho công tác quản lý địa phương. Công trình cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng việc làm của nông dân Vĩnh Phúc qua các số liệu điều tra cụ thể. Các phân tích chỉ rõ mối quan hệ giữa quá trình tích tụ đất đai và chuyển dịch cơ cấu lao động. Các cơ quan quản lý nhà nước có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để hoàn thiện chính sách hỗ trợ việc làm và an sinh xã hội. Luận văn cũng là tài liệu tham khảo quý báu cho các nhà nghiên cứu kinh tế và sinh viên chuyên ngành.

4.2. Tầm nhìn chiến lược xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh

Giải quyết việc làm cho nông dân mất đất gắn liền với mục tiêu xây dựng nông thôn mới nâng cao và đô thị văn minh tại Vĩnh Phúc. Chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ giúp tăng thu nhập bình quân đầu người tại khu vực nông thôn. Quy hoạch không gian sống và hạ tầng xã hội cần đi đôi với quy hoạch việc làm. Tỉnh cần tiếp tục thu hút các ngành công nghiệp sạch, giá trị gia tăng cao để tạo nhiều việc làm chất lượng. Mục tiêu cao nhất là biến thách thức thu hồi đất thành cơ hội đổi mới đời sống toàn diện cho cư dân nông thôn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths ktct việc làm cho nông dân sau thu hồi đất ở tỉnh vĩnh phúc hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN DÂN SAU THU HỒI ĐẤT 1. Một số vấn đề chung về việc làm cho nông dân sau thu hồi đất 1.Một số khái niệm 1. Khái niệm thu hồi đất Thu hồi đất là biện pháp pháp lý được sử dụng để làm chấm dứt quan hệ 10 pháp luật đất đai. Thu hồi đất thể hiện dưới hình thức pháp lý là một quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Xét về nội dung, thu hồi đất là việc sử dụng quyền lực nhà nước để thu lại quyền sử dụng đất đã được giao cho cá nhân, tổ chức để nhằm phục vụ lợi ích của nhà nước và xã hội. Thông thường, đất được thu hồi được sử dụng cho các mục đích mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn hoặc để phục vụ các mục đích phi kinh tế nhưng quan trọng như an ninh, quốc phòng Ngược lại với giao đất, cho thuê đất là những hình thức pháp lý làm hình thành một quan hệ pháp luật đất đai thì thu hồi đất biện pháp pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai. Hình thức pháp lý này là một quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giao đất, cho thuê đất. Biện pháp này thể hiện quyền lực nhà nước trong tư cách là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai.

Vì vậy, để thực thi nội dung này, quyền lực nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội đồng thời lặp lại trật tự kỷ cương trong quản lý Nhà nước về đất đai. Thu hồi đất phải được hiểu dưới các khía cạnh sau đây: - Là một quyết định hành chính của người có thẩm quyền nhằm chấm dứt quan hệ sử dụng đất của người sử dụng; - Quyết định hành chính thể hiện quyền lực nhà nước nhằm thực thi nội dung của quản lý nhà nước về đất đai; - Việc thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước và xã hội hoặc là biện pháp chế tài được áp dụng nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng. Từ đó ta có thể định nghĩa thu hồi đất như sau: Là văn bản hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ pháp luật đất đai để phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành chính hành vi vi 11 phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất. Khái niệm việc làm Cho đến nay, có khá nhiều định nghĩa khác nhau về việc làm.

Việc làm là phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế xã hội và nhân khẩu, nó thuộc những vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội. Tùy theo cách tiếp cận mà người ta có những cách định nghĩa khác nhau về việc làm.A Gowlop thì “việc làm là mối quan hệ sản xuất nảy sinh do sự kết hợp giữa cá nhân người lao động và phương tiện sản xuất”. Theo Huyhanto (Viện Hải ngoại Luân Đôn) thì “việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ hoạt động kinh tế của một xã hội, là tất cả những gì liên quan đến cách kiếm sống của con người kể cả quan hệ sản xuất và các tiêu chuẩn hành vi tạo ra khuôn khổ của quá trình kinh tế”. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động.

Vì vậy, “việc làm được coi là hoạt động có ích mà không bị pháp luật ngăn cấm có thu nhập bằng tiền (hoặc bằng hiện vật)”. Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Khoa Kinh tế & Quản lý nguồn nhân lực - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, khái niệm việc làm được hiểu là:“Việc làm là trạng thái phù hợp về số lượng và chất lượng giữa tư liệu sản xuất với sức lao động, để tạo ra hàng hóa theo yêu cầu của thị trường”. Điều 13, Chương II Bộ luật Lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ rõ: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm. Năm 2012, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành luật Lao động thay thế cho luật Lao động trước đó.

Trong Luật Lao động, điều 9, khoản 1 chỉ rõ: Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm. Quan điểm trên cho thấy khái niệm việc làm bao gồm các nội dung: 12 + Là hoạt động lao động của con người. + Là hoạt động lao động nhằm mục đích tạo ra thu nhập. + Là hoạt động lao động đó không bị pháp luật ngăn cấm.

Khái niệm này đã được cụ thể hoá bằng các chỉ tiêu quản lý nhà nước về việc làm và thống nhất trong cả nước. Để tạo điều kiện thuận lợi trong các hoạt động thực tế, khái niệm này đã được cụ thể hoá như sau: Việc làm là hoạt động được thể hiện ở một trong ba dạng: + Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật cho công việc đó. + Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân, bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chính thành viên đó sở hữu; hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần. + Làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó, bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ gia đình quản lý hay có quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chủ hộ hay một thành viên trong gia đình làm chủ hoặc quản lý.

Quan niệm mới về việc làm như Bộ luật lao động quy định cho thấy ở nước ta đã có sự thay đổi căn bản trong nhận thức về việc làm. Với quan niệm này, nó đã xoá bỏ sự phân biệt đối xử lao động giữa các thành phần kinh tế, động viên mọi tổ chức, mọi cá nhân và toàn xã hội tạo mở nhiều việc làm cho người lao động. Bên cạnh quan niệm mới về việc làm, Bộ luật lao động còn quy định GQVL như sau: "Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội" [7; tr. Theo luật Lao động năm 2012, điều 9, khoản 2 chỉ rõ: Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia GQVL, bảo đảm cho mọi người 13 có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm.

Từ những quan niệm trên tác giả cho rằng: việc làm là tất cả những hoạt động mang lại thu nhập hợp pháp dưới nhiều hình thức khác nhau cho người lao động. Việc làm bền vững là các hoạt động tương đối ổn định mang lại thu nhập hợp pháp, tương xứng với lao động đã bỏ ra và bảo đảm được đời sống của người lao động, có nơi làm việc an toàn, được bảo đảm về mặt xã hội, có triển vọng phát triển cá nhân và gia đình, có cơ hội bình đẳng và được đối xử bình đẳng. Việc làm cho nông dân sau thu hồi đất. Trong quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, một bộ phận lớn người lao động nông nghiệp chuyển sang các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.

Quá trình này tác động đến nhu cầu đào tạo, học nghề của người lao động thuộc các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, điều này tác động tích cực đến chất lượng lao động ở các huyện ngoại thành. Tuy nhiên, đối với các hộ gia đình nghèo, mất việc làm nông nghiệp trong thời gian đầu rất khó khăn, các chính sách trợ giúp từ Nhà nước, cộng đồng có vai trò quan trọng, đặc biệt là hỗ trợ về đào tạo, dạy nghề cho người lao động để họ có điều kiện tìm việc làm trên thị trường lao động hoặc tự tạo việc làm mới trong các lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nghề truyền thống, kinh doanh dịch vụ. Bên cạnh đó, việc các khu công nghiệp không được lấp đầy, hiệu quả sử dụng thấp sẽ làm giảm số lượng việc làm, ảnh hưởng đến mục tiêu giải quyết việc làm cho lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi. Luật Đất đai (sửa đổi và bổ sung năm 2013) chỉ ra rằng: Việc hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tạo việc làm.

đối với trường hợp bị thu hồi đất được quy định cụ thể, rõ ràng; UBND cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện phương án đào tạo, chuyển đổi nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người có đất thu hồi là đất nông nghiệp. Đối tượng của Đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. 14 Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ ngày 27 tháng 11 năm 2009 cũng coi lao động nông thôn bị thu hồi đất nông nghiệp là một trong những đối tượng của đề án này. Đề án đưa ra yêu cầu, chính sách cụ thể đối với người học, giáo viên, giảng viên, đối với cơ sở đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động ở khu vực nông thôn, trong đó có đối tượng bị thu hồi đất nông nghiệp.

Theo quan điểm của tác giả, hoạt động được xem là việc làm cho nông dân bị thu hồi đất phải đáp ứng các điều kiện sau đây: Thứ nhất, hoạt động lao động của người nông dân khi không có đất sản xuất (bị thu hồi hết) hoặc còn một phần đất sản xuất (sau khi thu hồi). Đây là hoạt động có mục đích của người nông dân, dùng sức cơ bắp và thần kinh của mình tác động vào đối tượng lao động thông qua công cụ lao động để cải biến nó phù hợp với nhu cầu của họ và gia đình, cộng đồng và xã hội. Thứ hai, để có việc làm đòi hỏi phải có tư liệu sản xuất và sức lao động. Với ý nghĩa này, để người nông dân trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất có việc làm đòi hỏi phải đầu tư phát triển sản xuất, phải tạo ra một số lượng tư liệu sản xuất có khả năng đáp ứng yêu cầu của người nông dân.

Đồng thời, phải đào tạo nghề, chuyển đổi nghề cho nông dân bị thu hồi đất nhằm nâng cao chất lượng, số lượng sức lao động, để có thể sử dụng hiệu quả tư liệu sản xuất có được.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ