CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN BẮT GIỮ TÀU BIỂN 1. Các công trình nghiên cứu trong nước Đất nước ta có bờ biển dài và rộng nên có rất nhiều những vấn đề liên quan đến tàu biển. Nổi bật trong số đó là các vấn đề về bắt giữ tàu biển. Có thể chia các công trình nghiên cứu về đề tài này thành 2 nhóm chính: Các công trình nghiên cứu trong nước và công trình nghiên cứu ở nước ngoài.
Những công trình nghiên cứu như luận văn, luận án đã giới thiệu cho ta một bức tranh toàn cảnh về những quy định của Việt Nam và hệ thống các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên. Đánh giá sơ bộ về những vấn đề thực tiễn và lý luận trong việc bắt giữ tàu biển trong hàng hải quốc tế. Những công trình nghiên cứu này góp phần hệ thống hóa các quy định của luật và các quy định trong các Điều ước quốc tế về vấn đề bắt giữ tàu biển. Đánh giá được thực trạng và phân tích các hạn chế và bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật.
Các công trình nghiên cứu này tuy chưa tổng quan được hết các vấn đề liên quan đến đề tài nhưng đã có phần rất lớn trong việc đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước để phù hợp với các Điều ước quốc tế mà 5 lOMoARcPSD|11424851 nước ta là thành viên. Các công trình nghiên cứu này còn giúp ta hiểu sâu rộng hơn về các thủ tục, trình tự bắt giữ, giải phóng bán đấu giá phát mãi tàu biển. Luận văn nghiên cứu đề tài: Bắt giữ tàu biển trong hàng hải quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam của Nguyễn Thị Kim Quy- 2005 Bài luận nghiên cứu cứu một cách tổng quan vai trò của hàng hải trong thương mại quốc tế, cơ sở pháp lí của việc bắt giữ tàu biển, mối liên hệ giữa các quy định về về vấn đề bắt giữ tàu biển với các chế định khác trong các bộ luật, công ước,… thông qua phân tích, so sánh với các quy định của một số nước từ đó tìm ra tiêu chí để áp dụng và hoàn thiện cơ sở pháp luật Việt Nam về bắt giữ tàu biển. Tác giả đã giới hạn phạm vi nghiên cứu trên những vấn đề bắt giữ tàu biển của Tòa án dựa trên những yêu cầu của các chủ nợ đòi chủ tàu, người thuê tàu, người vận chuyển, bồi thường thiệt hại hoặc đưa ra các biện pháp bảo đảm bảo lãnh tài chính, từ đó vẽ ra cho ta một bức tranh tổng quát và rõ ràng hơn về cách giải quyết của toàn án trong vấn đề cụ thể của bắt giữ tàu biển.
Luận văn đã đề cập tương đối toàn diện các vấn đề Liên quan đến bắt giữ tàu biển như khiếu nại Hàng hải dẫn đến bắt giữ tàu biển, trình tự thủ tục bắt giữ,… Luật áp dụng đối với việc giải quyết các yêu cầu bắt giữ tàu biển, từ đó, công trình còn giúp ích rất nhiều trong công tác xét xử các vụ án liên quan,… Trong thực tiễn giải quyết các khiếu nại liên quan đến hàng hải, các Tòa án tại địa phương gặp khó khăn khi giải quyết những tranh chấp dẫn đến việc bắt giữ như vấn đề về thẩm quyền giải quyết, trình tự tống đạt, phát mãi, sự phối hợp hay xác lập nguyên tắc quan hệ phối hợp giữa các ngành có trách nhiệm và liên quan đến vụ việc. Qua bài nghiên cứu ta thấy việc áp dụng hay dẫn chiếu pháp luật của nước ta thời đó còn yếu, việc áp dụng pháp luật nước ngoài hay kết hợp điều ước quốc tế trong hoạt động giải quyết vụ việc cũng còn nhiều vướng mắc. 6 lOMoARcPSD|11424851 Trên thực tế xét xử các cơ Tòa án còn cứng nhắc trong khi áp dụng các điều khoản trọng tài. hay việc xác định thẩm quyền giải quyết đối với các vụ việc phức tạp vẫn chưa thực sự hợp lý.
Ngoài ra còn rất nhiều các công trình nghiên cứu trong nước khác, các công trình đã nghiên cứu các vấn đề với các nội cung rất cần thiết và nó như những tư liệu, những tham chiếu cho hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như áp dụng pháp luật trong lĩnh vực bắt giữ tàu biển sau này 1. Công trình “Pháp luật nước ngoài về bắt giữ tàu biển trong hàng hải quốc tế và kinh nghiệm đối với Việt Nam” của TS. Nguyễn Tiến Vinh – xuất bản 2015. Công trình nghiên cứu dựa trên các phương pháp nghiên cứu đa dạng như tiếp cận các vấn đề từ cơ sở là những thành tựu nghiên cứu của nước ngoài , dựa trên những nguyên lí cơ bản của lí luận về chủ nghĩa Mác-Lê nin, ….
Cùng với những phương pháp cơ bản như thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp để giải quyết, làm rõ các vấn đề cụ thể về pháp luật về bắt giữ tàu biển như: Nghiên cứu, làm sáng tỏ các quy định quốc tế về bắt giữ tàu biển trong hàng hải quốc tế. Phân tích và khái quát hóa các kinh nghiệm lập pháp và tình hình thực thi pháp luật của một số quốc gia nước ngoài tiêu biểu về bắt giữ tàu biển trong hoạt động hàng hải quốc tế. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về bắt giữ tàu biển trong hàng hải quốc tế, từ đó đề ra các phương hướng, đề xuất cho các giải pháp pháp lí cụ thể về bắt giữ tàu biển từ đúc kết và học hỏi kinh nghiệm quốc tế và rút kinh nghiệm từ thực tiễn trong nước. Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên trong thời điểm bấy giờ ở Việt Nam nghiên cứu một cách sâu rộng và có hệ thống về pháp luật các quốc gia nước ngoài về bắt giữ tàu biển.
Kết quả của công trình nghiên cứu không chỉ hữu dụng với các cơ quan nhà nước trong việc hoàn thiện lập pháp và thực thi phápluật về bắt giữ tàu biển mà còn là 7 lOMoARcPSD|11424851 kim chỉ nam đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp có tàu biển trong nước cũng như nước ngoài. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Trên phạm vi quốc tế, nhất là các quốc gia có vùng biển dài và rộng, họ có rất nhiều các quy định về vấn đề này, việc nghiên cứu, phân tích các vấn đề về bắt giữ cũng được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Arrest regimes: comparing english law and the position under the Convention 1952 and the arrest convention 1999” năm 2003 của Hill Dickinson; “The Arrest of Ship Convention 1952 and 1999: Disappointment for Maritime Claimanst” năm 2007 của Mr. Pháp luật quốc tế còn có rất nhiều các Công ước, điều ước quốc tế về vấn đề này Công ước 1988, Công ước quốc tế về luật biển 1982 UNCLOS, Công ước về bắt giữ tàu biển 1999, … Tháng 10 năm 2011, trên web mondaq.com có bài nghiên cứu: “An Overview of the 1952 and 1999 Arrest Conventions” về vấn đề bắt giữ tàu biển.
Mục đích của nghiên cứu này là so sánh hai Công ước về Bắt giữ năm 1952 và 1999, xem xét sự phát triển lịch sử và lý thuyết của chúng, các vấn đề về thực hiện và giải thích, sự khác biệt trong danh sách các yêu sách hàng hải riêng lẻ, các thủ tục và quy tắc liên quan đến bắt giữ, tái chiếm, thả và bảo mật truy cập. Công ước Bắt giữ mới năm 1999 đã làm rõ nhiều điều khoản của Công ước cũ và mở rộng danh sách các yêu sách hàng hải. Tuy vậy, nó vẫn còn chỗ cho thảo luận và tự do cho luật pháp quốc gia để lấp đầy những khoảng trống. Cả hai Công ước đều cho phép bắt giữ tàu vì lý do an ninh và ở một số khu vực pháp lý, khái niệm này được sử dụng để thành lập quyền tài phán.
Tuy nhiên, chưa có công ước nào giải quyết các câu hỏi về việc bắt giữ hàng hóa, boongke và cảnh báo trước việc bắt giữ hoặc thả. Tác giả cho rằng Công ước Bắt giữ 1999 thuận lợi hơn cho các nước đang phát triển trong khi Công ước 1952 đáp ứng nhu cầu của các quốc gia có biển truyền thống theo cách thức dễ chấp nhận hơn đối với họ. Theo một cách tương tự, người viết 8 lOMoARcPSD|11424851 có ý kiến rằng Công ước Bắt giữ năm 1952 mang tính “ủng hộ hàng hải” hơn, trong khi Công ước năm 1999 mang lại nhiều lợi ích hơn cho các quốc gia có cảng. Bài viết này cung cấp một cái nhìn tổng quan về những sự thay đổi giữa Công ước Quốc tế 1952 và Công ước Quốc tế 1999.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến vấn đề bắt giữ tàu biển đã được thực hiện cách đây tương đối lâu. Các công trình đều nghiên cứu một cách tổng quan, trực diện về vấn đề này và có những đóng góp rất lớn trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật hàng hải. Tuy nhiên, những đề xuất, kiến nghị của những công trình nghiên cứu tại Việt Nam lại chưa thực sự được ghi nhận hay triển khai trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật quốc gia. Thực chất, pháp luật về vấn đề bắt giữ tàu biển vẫn còn những mặt hạn chế, hay những quy định bị bỏ ngỏ và chưa thể thực hiện.
Còn các công trình nghiên cứu quốc tế thì lại chưa thực sự mang lại sức ảnh hưởng tới việc tham gia vào các công ước quốc tế của Việt Nam. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẮT GIỮ TÀU BIỂN 2. Khái niệm bắt giữ tàu biển và một số khái niệm liên quan Các quốc gia có biển đều thực hiện chủ quyền hoặc các quyền chủ quyền của mình trên các vùng biển của họ bằng cách xác lập các quy định pháp luật và các tập quán Hàng hải mang tính bắt buộc. Tàu biển hoạt động trên các tuyến Hàng hải quốc tế thường xuyên phải đi qua hoặc ra vào cảng của nhiều nước trên thế giới và do đó tàu biển khi đi vào nội thủy hoặc lãnh hải của bất cứ quốc gia nào cũng đều phải tuân thủ pháp luật cũng như tập quán Hàng hải của quốc gia đó.
Trong trường hợp tàu biển không tuân thủ các quy định này hoặc có hành vi vi phạm pháp luật Hàng hải, pháp luật dân sự, hành chính, hình sự. thì tàu biển đó có thể phải chịu những chế tài như: bị giữ, tạm giữ, bắt giữ, hoặc cầm giữ Hàng hải theo yêu cầu của cc chủ nợ cũng như theo các quy định của pháp luật.