Chương I: Những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. Chương II: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM 1. Tổng quan về hành vi cạnh tranh không lành mạnh 1.
Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh CTKLM trước hết là một khái niệm bắt nguồn từ những quy định mang tính nguyên tắc trong pháp luật dân sự. Theo đó, các giao dịch trong quan hệ dân sự phải đảm bảo tôn trọng thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội. Xuất phát từ nguyên tắc nền tảng trên, các giao dịch trên thị trường cũng phải đảm bảo tuân thủ đạo đức kinh doanh. Dưới góc độ về lý thuyết cạnh tranh, xuất phát từ bản tính hám lợi, ganh đua trong kinh doanh nên cạnh tranh luôn có tính hai mặt.
Ở góc độ tích cực, cạnh tranh đem lại lợi ích cho xã hội, cho người tiêu dùng, cho doanh nghiệp. Song, ở chừng mực nào đó, khi nhu cầu lợi nhuận thúc giục và cám dỗ con người đến với những thủ đoạn thái quá trong cạnh tranh, thì các hành vi cạnh tranh ấy trở thành nỗi ám ảnh và có thể gây ra nhiều hệ quả bất lợi cho sự phát triển, xâm hại lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp khác, của người tiêu dùng. Lý thuyết cạnh tranh gọi đó là những hành vi CTKLM1. Dưới góc độ pháp lý, trên cơ sở nguyên tắc chung được đề cập tại Điều 33 Hiến pháp 2013 “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” thì các chủ thể trên thị trường được tự do kinh doanh, tự do phát triển và theo đuổi mục tiêu lợi nhuận của mình.
Tuy nhiên, sự tự do này cũng phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Mặc dù vậy, vì chạy theo mục tiêu lợi nhuận cũng như những cám dỗ của địa vị, tiền bạc mà không ít các hành vi CTKLM đã và đang diễn ra. Để tìm ra giải pháp cho vấn đề này, Nhà nước đã ban hành các công cụ điều tiết và quản lý cạnh tranh như các chính sách về thuế, chính sách điều chỉnh độc quyền, kiểm soát về giá cả và đặc biệt là ban hành đạo luật riêng có tên là LCT. Căn cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 3 LCT 2018 thì “hành vi CTKLM là hành vi của doanh nghiệp trái với thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác”.
Trước kia, Luật Cạnh tranh 2004 (Luật số 27/2004/QH11) ngày 03 tháng 12 năm 2004 (LCT 2004) cũng quy định về hành vi CTKLM. Theo đó, hành vi CTKLM là “hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”. Như vậy, nhìn một cách tổng thể thì quy định về CTKLM theo pháp luật Việt Nam là phù hợp với quy định của Công ước Paris 1883 về bảo hộ Quyền Sở hữu công nghiệp, cũng như pháp luật cạnh tranh ở một số nước. Ở các quốc gia Châu âu lục địa, về cơ bản, hành vi CTKLM là hành vi vi phạm quyền dân sự.
Điều này đồng nghĩa với việc các yếu tố cấu thành của CTKLM giống như 4 yếu tố chính cấu thành 1 Trường đại học Kinh tế - Luật (2010), Giáo trình Luật cạnh tranh, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 6 nên trách nhiệm dân sự, cụ thể: (i) hành vi CTKLM; (ii) yếu tố lỗi; (iii) hậu quả; (iv) mối quan hệ nhân quả giữa hành vi CTKLM và hậu quả2. Tóm lại, lý thuyết về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh mặc dù có những cách thức tiếp cận có khác nhau, song về bản chất đều có sự thống nhất về những căn cứ để nhận dạng CTKLM, cụ thể: Thứ nhất: Đây là hành vi cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh trong cùng một lĩnh vực nhất định như ngân hàng, bất động sản, chứng khoán, …; Thứ hai: Hành vi này phải nhắm tới những đối thủ cạnh tranh cụ thể, xác định được trên cùng một thị trường liên quan; Thứ ba: Trái với các chuẩn mực đạo đức kinh doanh; trái với các nguyên tắc thiện chí, trung thực trong kinh doanh; trái với pháp luật; Thứ tư: Dẫn đến thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng, Nhà nước hoặc các lợi ích xã hội khác. Theo quy định tại Điều 45 LCT 2018 thì hành vi CTKLM bị cấm (không có ngoại lệ) bao gồm): (i) Xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh; (ii) ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác; (iii) cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác; (iv) gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; (v) lôi kéo khách hàng bất chính; (vi) bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến loại bỏ doanh nghiệp khác cùng kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó và (vii) là các hành vi CTKLM khác bị cấm theo quy định của luật khác.
Như vậy, hành vi CTKLM là hành vi phát sinh khi các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh, trái với pháp luật cạnh tranh cũng như các nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại trong kinh doanh, dẫn đến hệ quả là gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến doanh nghiệp đối thủ, doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng. Đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh 1. Chủ thể thực hiện hành vi Căn cứ tại khoản 6 Điều 3 LCT 2018 thì chủ thể thực hiện hành vi CTKLM là doanh nghiệp. Trong đó, thuật ngữ “doanh nghiệp” theo khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 (Luật số 59/2020/QH14) ngày 17 tháng 6 năm 2020 (Luật Doanh nghiệp 2020) là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Doanh nghiệp không chỉ bao gồm doanh nghiệp tư nhân và các công ty, mà còn bao gồm tất cả các loại chủ thể kinh doanh được phép tiến hành hoạt động kinh doanh ở Việt Nam như hộ kinh doanh, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cũng như các chủ thể kinh doanh khác có thể được pháp luật quy định trong tương lai3. Còn theo khoản 1 Điều 2 LCT 2018 thì doanh nghiệp bao gồm tổ chức và cá nhân kinh doanh. Như vậy, những đối tượng còn lại như các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức của người tiêu dùng, các đơn vị truyền 2 Nguyễn Hữu Huyên, “Phân biệt giữa cạnh tranh không lành mạnh và vi phạm quyền sở hữu trí tuệ”, http://thongtinphapluatdansu.com/, truy cập ngày 19/3/2022. 3 Trường đại học Luật Tp.
Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Luật cạnh tranh, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 7 thông, các tổ chức phi kinh tế không là đối tượng áp dụng các quy định chống CTKLM. Như vậy, chủ thể thực hiện hành vi CTKLM là các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh trên thị trường. Các doanh nghiệp ở đây bao gồm các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động kinh doanh thường xuyên, liên tục và nhằm mục đích sinh lợi.
Để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp này buộc phải cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường, nguồn cung cấp sản phẩm, … về phía mình. Do vậy, cần thiết phải kiểm soát hoạt động cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh vì CTKLM có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Mục đích của hành vi Mục đích của hành vi CTKLM là nhằm cạnh tranh trong kinh doanh, cụ thể là nhằm đạt được lợi thế về cạnh tranh nhất định so với doanh nghiệp khác. Lợi thế ở đây có thể về thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp nguyên vật liệu, khách hàng, … Còn “doanh nghiệp khác” ở đây là doanh nghiệp cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp thực hiện hành vi, nhưng cũng có thể (chỉ) là doanh nghiệp có tiềm năng cạnh tranh với doanh nghiệp thực hiện hành vi.
Có thể nói, cạnh tranh là vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động kinh doanh trên thị trường. Cạnh tranh là động lực của sự phát triển, thông quá quá trình đào thải này thì cạnh tranh sẽ giúp giữ lại những doanh nghiệp mạnh, đủ thế và lực; loại bỏ ra khỏi thị trường những doanh nghiệp yếu kém. Từ đó, thúc đẩy nền kinh tế ngày càng đi lên. Tính chất của hành vi Đúng như tên gọi “hành vi CTKLM” thì hành vi này có tính chất “không lành mạnh”.
Ở đây nhà làm luật sử dụng cụm từ cạnh tranh “không lành mạnh” chứ không phải cạnh tranh “bất hợp pháp”. Sở dĩ như vậy là vì CTKLM không chỉ đơn thuần là trái với pháp luật (bất hợp pháp) mà nó còn trái với nguyên tắc thiện chí trung thực, trái với đạo đức kinh doanh. Các hành vi CTKLM bao hàm cả trong đó hành vi cạnh tranh bất hợp pháp. Hay nói cách khác, quan niệm về CTKLM rộng hơn quan niệm cạnh tranh bất hợp pháp, nghĩa là khi xác định một hành vi có phải là hành vi CTKLM hay không thì không chỉ căn cứ vào các quy định của pháp luật mà còn phải dựa vào truyền thống, đạo đức kinh doanh được quan niệm theo từng giai đoạn phát triển khác nhau.
Bởi lẽ, “Đạo đức là pháp luật tối đa, còn pháp luật là đạo đức tối thiểu”. Hậu quả của hành vi Hành vi CTKLM dẫn đến hậu quả là gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác, thậm chí có thể tác động đối tác, khách hàng của doanh nghiệp và ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế thị trường. Thiệt hại mà hành vi gây ra có thể là hiện thực (đã xảy ra) nhưng cũng có thể chỉ là tiềm năng (có căn cứ để xác định rằng hậu quả chắc chắn sẽ xảy ra nếu không ngăn chặn hành vi). Do đó, một số hành vi CTKLM có cấu thành vật chất (thiệt hại là dấu hiệu bắt buộc); một số hành vi có cấu thành hình thức (thiệt hại không là dấu hiệu bắt buộc mà có thể chỉ là sự suy đoán nếu hành vi tiếp tục được thực hiện).