mở đầu của ộ nguyên t c này chỉ ra rằng, cho vay là hoạt động tiềm tàng nhiều rủi ro lớn nhất của các TCTD. Tuy nhiên, các TCTD cũng cần có những iện pháp hạn chế rủi ro trong các hoạt động khác của mình: các giao dịch liên ngân hàng, tài trợ thƣơng mại, giao dịch ngoại hối, hợp đ ng hoán đổi, trái phiếu, chứng khoán, thanh toán giao dịch… Bộ nguyên t c này ao g m 17 nguyên t c, chia làm 5 nhóm. Nhóm I có 3 nguyên t c đề cập đến vấn đề tạo ra một môi trƣ ng rủi ro tín d ng phù hợp (“Esta lishing an appropriate credit risk environment”). Nhóm II có 3 nguyên t c nhấn mạnh việc cấp tín d ng phải tuân thủ theo một quy trình (“Operating under a sound credit granting process”).
Nhóm III có 6 nguyên t c chỉ ra sự cần thiết của việc quản lý, đo 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lƣ ng và giám sát các khoản tín d ng (“Maintaining an appropriate credit administration, measurement and monitoring process”). Nhóm IV với a nguyên t c yêu cầu các tổ chức tín d ng cần đảm ảo các iện pháp tƣơng xứng nhằm kiểm soát rủi ro (“Ensuring adequate controls over credit risk”). Hai nguyên t c cuối cùng xếp thành nhóm V, chỉ ra vai trò của ngƣ i giám sát (“The role of supervisors”). Công trình này đề cập đến các yếu tố ảnh hƣởng đến rủi ro của một khoản vay cá nhân, ao g m 04 yếu tố: (a) Đặc điểm cá nhân của khách hàng vay (nhƣ độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, số ngƣ i ph thuộc.); (b) Đặc điểm nghề nghiệp của ngƣ i vay ( ao g m tính chất công việc hoặc nghề nghiệp của ngƣ i vay, đặc điểm của ngƣ i chủ lao động của ngƣ i đi vay); (c) Đặc điểm tài chính của ên vay; (d) Đặc điểm của ản thân khoản vay (m c đích vay, số tiền vay, th i gian trả nợ, lãi suất… Có thể nói, các yếu tố trên tác động đến tính khả thi của khoản vay tại ngân hàng và từ đó ngân hàng có thể áp d ng các iện pháp ảo đảm cần thiết, trong đó có thế chấp BĐS để hạn chế rủi ro.
Cuốn sách chuyên khảo của PGS. Lê Thị Thu Thủy “Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới”, Nhà xuất ản ĐHQGHN 2016 [70, tr. 32-38] đã phân tích khá toàn diện các khía cạnh của rủi ro trong cho vay ngân hàng, các nguyên nhân dẫn đến rủi ro cũng nhƣ các iện pháp để phòng ngừa và hạn chế rủi ro này. Đặc iệt, cuốn sách nhấn mạnh các đặc điểm của rủi ro trong cho vay của TCTD nhƣ: - Rủi ro trong cho vay của TCTD phát sinh dựa trên cơ sở không thực hiện đúng hợp đ ng tín d ng đã ký kết giữa TCTD ( ên cho vay) và khách hàng ( ên vay vốn).
- Rủi ro trong cho vay của TCTD đƣợc thể hiện ở các mức độ khác nhau, có thể TCTD cho vay không thu h i đƣợc lãi hoặc gốc đúng hạn hoặc cả hai. - Rủi ro trong cho vay của TCTD mang tính tất yếu do TCTD rất khó kiểm soát đƣợc việc sử d ng vốn vay của TCTD, vì vậy trong hoạt 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động cho vay, TCTD phải chủ động áp d ng các iện pháp xác định và định lƣợng rủi ro, quản lý và kiểm soát rủi ro. - Hậu quả của rủi ro trong hoạt động cho vay ngân hàng là rất lớn, làm giảm lợi nhuận ngân hàng, có thể ảnh hƣởng tới khả năng thanh toán và chi trả tiền gửi của TCTD cho vay, là nguyên nhân dẫn đến phá sản ngân hàng và mất an toàn của hệ thống ngân hàng. Từ những vấn đề lý luận về rủi ro tín d ng, cuốn sách đã phân tích sự cần thiết phải áp d ng các iện pháp hạn chế rủi ro, trong đó có iện pháp ảo đảm tiền vay ằng thế chấp BĐS.
Hai là, các nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, phân loại TSBĐ là bất động sản và khái niệm, đặc điểm, vai trò của thế chấp bất động sản nhằm hạn chế rủi ro trong cho vay của ngân hàng thương mại Khái niệm, đặc điểm, phân loại tài sản nói chung và BĐS nói riêng đƣợc thể hiện trong các công trình nghiên cứu nhƣ hai cuốn sách của tác giả Nguyễn Ngọc Điện (1999), Nghiên cứu về tài sản trong luật dân sự Việt Nam, Nhà xuất ản Trẻ thành phố H Chí Minh [17, tr.52-67] và Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận khoa học về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong luật dân sự Việt Nam, Nhà xuất ản Trẻ [18]. Trong các công trình này tác giả đã phân tích, bình luận về BĐS và thế chấp BĐS nhƣ một iện pháp ảo đảm thực hiện nghĩa v dân sự. Cuốn sách nêu rõ khái niệm BĐS và khẳng định, BĐS là đối tƣợng của thế chấp và có sự khác iệt giữa BĐS và động sản. BĐS có thể ảo đảm cho các nghĩa v dân sự, trong đó có cả nghĩa v trả nợ theo hợp đ ng tín d ng trong hoạt động cho vay của NHTM.
Ngoài ra, các công trình trên đã có sự so sánh giữa pháp luật dân sự Việt Nam và pháp luật dân sự của Pháp về các iện pháp ảo đảm, trong đó có iện pháp thế chấp. Có thể thấy, hai công trình trên đã nghiên cứu tƣơng đối kỹ những vấn đề lý luận về BĐS, thế chấp BĐS và pháp luật về thế chấp BĐS. Các kết quả nghiên cứu này tạo cơ sở cho việc tiếp cận iện pháp thế chấp để ảo đảm nghĩa v trả nợ trong cho vay ngân hàng và hạn chế rủi ro tín d ng. Đặc iệt, PGS.
Ngô Huy Cƣơng đã có những ình luận c thể về tài sản, BĐS trong cuốn sách “Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay” (2006) [15, tr. Theo đó, việc phân loại BĐS là cần thiết, xuất phát từ các lý do về mặt vật lý, về mặt kinh tế, về mặt tâm lý. Đất đai là tài sản g n ó lâu đ i với con ngƣ i và không thể thiếu trong cuộc sống của con ngƣ i, đƣợc chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác, g n liền với lãnh thổ quốc gia. Ngoài ra, cuốn sách nêu 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ra ốn cách phân loại BĐS: BĐS do ản chất (xuất phát từ đặc tính vật lý thực tế của chất liệu nhƣ đất đai, nhà cửa, công trình, cây cối trên đất… là một phần không thể tách r i của BĐS); BĐS do d ng đích (sự g n liền các tài sản này với đất đai hạn chế); BĐS ởi lý do có đối tƣợng trên BĐS (các vật quyền liên quan đến BĐS và các tố quyền trƣớc tòa án để đòi các quyền đó và các tố quyền đòi chiếm hữu BĐS); BĐS do luật định.
Việc phân loại nêu trên có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các quyền của chủ thể nhận thế chấp là BĐS, ảo vệ quyền lợi của chủ nợ trong cho vay ngân hàng. Ngoài ra, việc phân loại tài sản, BĐS cũng đƣợc thể hiện rõ nét trong luận văn Thạc sĩ “Phân loại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam” của Bùi Thị Nga, Chuyên ngành: Luật dân sự, Khoa luật - ĐHQGHN, (2012) [41]. Theo quan điểm của tác giả thì tài sản đƣợc phân loại ao g m: Căn cứ vào chủ sở hữu tài sản: tài sản công, tài sản chung và tài sản tƣ. Dựa vào đặc tính vật lý (có thể di d i đƣợc hay không) và giá trị của tài sản: động sản và BĐS.
Dựa vào phƣơng thức chiếm hữu (kiểm soát thực tế, kiểm soát hành vi các chủ thể, có thể cảm nhận, n m t đƣợc hay không): tài sản vô hình và tài sản hữu hình. Qua nghiên cứu trên cho thấy BĐS khác iệt cơ ản với động sản ở đặc tính không di d i đƣợc; BĐS là đất đai thì thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc thống nhất quản lý. Đây là một trong những điểm đặc thù cần chú trọng khi ngân hàng nhận thế chấp BĐS để cho vay. Các iện pháp hạn chế rủi ro tín d ng trong hoạt động tín d ng của NHTM ở Việt Nam (trong đó có thế chấp BĐS) cũng đƣợc đề cập dƣới góc độ nghiệp v trong nhiều cuốn sách, giáo trình kinh tế tài chính nhƣ giáo trình: Tín d ng ngân hàng, Tác giả: GS.
Nguyễn Văn Tiến, Nhà xuất ản Thống kê, 2015 [77]. Trong cuốn sách này tác giả phân tích kỹ chính sách cho vay và quản lý rủi ro trong cho vay, khái quát các iện pháp ảo đảm tiền vay ằng tài sản và iện pháp ảo lãnh ngân hàng. Theo tác giả, iện pháp thế chấp và các iện pháp ảo đảm tiền vay khác chính là các iện pháp hạn chế rủi ro tín d ng. Thêm nữa, để quản lý rủi ro tín d ng thì các quy chế, qui định nội ộ của ngân hàng, định hƣớng hoạt động ngân hàng trong từng th i kỳ, việc giới hạn tín d ng đối với khách hàng vay vốn cũng tác động mạnh đến việc hạn chế rủi ro trong cho vay ngân hàng.
Hoặc trong sách: Quản trị ngân hàng thƣơng mại của GS. Nguyễn Văn Tiến, Nhà xuất ản 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thống Kê 2013 [73, tr.148-151] đã đề cập vấn đề rủi ro tín d ng và quản trị rủi ro tín d ng. Tác giả cho rằng để hạn chế rủi ro tín d ng nói chung thì việc xác định thế nào là rủi ro tín d ng và cách thức quản trị các rủi ro này là vô cùng cần thiết, trên cơ sở đó hạn chế rủi ro phát sinh trong tín d ng ngân hàng. Vậy các công trình trên xác định rõ vấn đề rủi ro tín d ng nói chung và rủi ro trong cho vay ngân hàng nói riêng và từ đó cho thấy sự cần thiết phải áp d ng các iện pháp hạn chế rủi ro.
Theo tác giả PGS. Ngô Huy Cƣơng, “thế chấp là một vật quyền đƣợc thiết lập trên tài sản nhằm ảo đảm cho nghĩa v ” (Bài áo: Vài nét về thế chấp trong BLDS Việt Nam, Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật, số 5, năm 1997, tr. Trong ài viết này tác giả cũng làm rõ các đặc điểm của thế chấp, đăng ký thế chấp, vấn đề đặc quyền cho chủ nợ trong quan hệ thế chấp và xử lý tài sản thế chấp.