CHƯƠNG 1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG CÁC DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TÍN DỤNG VÀ AN TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.3] Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (NH hoặc các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, DN và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
[16] Từ khái niệm trên có thể rút ra được bản chất của tín dụng ngân hàng: - Thứ nhất, tín dụng ngân hàng phải dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa bên cho vay và bên đi vay. Chỉ khi nào người cho vay thực sự tin tưởng vào sự sẵn lòng và khả năng trả nợ của người đi vay, khi đó quan hệ tín dụng mới được thiết lập. Đây chính là điều kiện tiên quyết hình thành quan hệ tín dụng. Mặt khác, người vay cũng tin vào hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn đi vay của mình.
- Thứ hai, tín dụng ngân hàng là sự chuyển tạm thời một lượng tài sản của người sở hữu cho người đi vay, trong một thời gian nhất định với cam kết hoàn trả cả gốc và lãi. - Thứ ba, sau một thời gian như đã thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay một lượng giá trị gồm cả gốc và lãi. Phần chênh lệch này là cái 5 giá của việc được quyền sử dụng vốn của người khác. Do vậy, cái giá này phải đủ lớn để đem lại sự hấp dẫn cho người chuyển nhượng sử dụng vốn.
- Thứ tư, hoạt động TD luôn chứa đựng những rủi ro. Đó là do sự bất cân xứng về thông tin của khách hàng có quan hệ tín dụng với NH. Rủi ro xảy ra bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ phía NH và khách hàng cùng những nguyên nhân khách quan như: sự biến động của thị trường, chu kỳ kinh tế, sự thay đổi của chính sách, những nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, địch hoạ. Phân loại về cho vay Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định.
Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị RRTD. Phân loại cho vay dựa vào các căn cứ sau đây: - Dựa vào mục đích của cho vay, hoạt động tín dụng có thể được phân chia thành các loại sau: + Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp; + Cho vay tiêu dùng cá nhân; + Cho vay kinh doanh bất động sản; + Cho vay sản xuất nông nghiệp; + Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu. - Dựa vào thời hạn cho vay, hoạt động TD có thể phân chia thành các loại sau: + Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động; + Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng.
Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định; + Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 60 tháng. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án đầu tư. - Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau: 6 + Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay; + Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác. - Dựa vào phương thức cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau: + Cho vay theo món vay (cho vay từng lần): là loại cho vay mà mỗi lần vay vốn, khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng cho khoản vay đó; + Cho vay theo hạn mức tín dụng: là loại cho vay mà TCTD và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định; + Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng.
- Dựa vào xuất xứ tín dụng, hoạt động TD có thể phân chia thành các loại sau: + Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp trả nợ vay cho ngân hàng; + Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán như là: Chiết khấu thương mại; bao thanh toán. Vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng Đối với cá nhân và hộ kinh doanh, ngân hàng là một loại hình kinh doanh có vai trò vô cùng quan trọng. Với sự hiện hữu của ngân hàng, có thể nhận được các khoản vay để thanh toán cho việc kinh doanh hộ các thể, mua ô tô, sở hữu nhà ở hay để trang trải chi phí cho việc học tập, kinh doanh. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng là một địa chỉ hữu ích nếu như chúng ta mong muốn nhận được những lời khuyên về việc đầu tư các khoản tiền tiết kiệm hay về việc lưu giữ và bảo quản các giấy tờ có 7 giá.
Hệ thống ngân hàng với hàng ngàn CN hoạt động trên toàn thế giới có thể tác động đến sự phát triển của tất cả mọi lĩnh vực và của toàn bộ nền kinh tế nói chung. Đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại các yếu tố cạnh tranh hết sức khốc liệt, các DN muốn chiếm lĩnh thị trường, nâng cao vị thế cạnh tranh thì điều kiện tiên quyết đối với họ là phải không ngừng nâng cao quy mô và chất lượng hoạt động kinh doanh của mình. Và để làm được điều đó cũng như sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn kinh doanh thì TDNH là sự lựa chọn tối ưu cần thiết, phổ biến của các DN. Cụ thể: - TDNH là công cụ tài trợ cho các DN thỏa mãn nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh.
Để tổ chức sản xuất, kinh doanh nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, tất cả các DN đều phải tạo lập nguồn vốn. Nguồn vốn trong DN bao gồm nhiều loại khác nhau. Nếu căn cứ vào quyền sở hữu thì có thể chia làm hai loại: Thứ nhất, nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn do các chủ sở hữu DN đóng góp ban đầu và tạo lập trong quá trình kinh doanh. Thứ hai, vốn vay ngân hàng, tài trợ thương mại, tín dụng thương mại của nhà cung cấp (mua hàng trả chậm).
Như vậy, NHTM là một trong những kênh tài trợ vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN. Mặt khác, yêu cầu đổi mới trang thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất ngày càng tăng tại DN, từ đó làm gia tăng nhu cầu vốn dài hạn. Tùy theo loại hình, DN có thể chọn giải pháp gia tăng thêm vốn bằng cách khác như phát hành thêm cổ phiếu (nếu là công ty Cổ phần) hoặc vay trực tiếp bằng cách phát hành thêm trái phiếu theo luật định. nhưng việc phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu nhằm tăng vốn cũng phải đảm bảo những điều kiện nhất định mới được phép nên việc tăng vốn theo hình thức này sẽ không thực hiện được dễ dàng và nhanh chóng.
Còn các loại hình DN khác như DN tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn. không được phát hành chứng khoán, nên để tăng vốn các chủ sở hữu phải tự góp, quy mô rất hạn chế. Đối với một thị trường chứng khoán chỉ mới bắt đầu phát triển như Việt Nam, cùng với các điều khoản chặt chẽ, chi phí, thời gian để có thể phát hành chứng khoán làm cho việc huy động vốn trực tiếp thông 8 qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu chưa phổ biến thì TDNH vẫn luôn là nguồn vốn đặc biệt quan trọng đối với DN. - TDNH là một trong các đòn bẩy kích thích DN và NH hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn.
NH vừa là người “đi vay”, vừa là người “cho vay” nên bản thân NH trong quá trình kinh doanh phải tính toán đến hiệu quả kinh doanh sao cho bản thân NH có lời, đồng thời hoàn trả được gốc và lãi cho người gửi tiền. Mặt khác, các DNVV NH cũng phải tính toán đến hiệu quả kinh tế sao cho bản thân họ có lời và hoàn trả được vốn gốc, lãi vay cho NH. Như vậy, TDNH có tác dụng tăng cường chế độ hoạch toán kinh tế không chỉ đối với các NHTM, mà cả với các DN đi vay. Ngoài ra, TDNH là một kênh đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế, góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả, ổn định đời sống dân cư, tạo công ăn việc làm và đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
NHTM cấp tín dụng cho các doanh nghiệp trên cơ sở nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động, với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi dưới hình thức cho vay, ứng trước, chiết khấu, bảo lãnh. và nó mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng. Tuy nhiên, RRTD có khả năng xảy ra cao, luôn đe dọa sự tồn tại của ngân hàng. An toàn trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại 1.