Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA UỶ BAN KIỂM TRA ĐẢNG UỶ KHỐI CÁC CƠ QUAN VÀ DOANH NGHIỆP TỈNH 1. Công tác kiểm tra của Đảng và Uỷ ban kiểm tra đảng uỷ khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh 1. Công tác kiểm tra của Đảng 1. Quan niệm * Khái niệm kiểm tra: Theo Từ điển Tiếng Việt, kiểm tra là: “Xem xét thực chất, thực tế: kiểm tra chất lượng, kiểm tra sức khỏe, kiểm tra sổ sách” [68, tr.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, kiểm tra được hiểu là: “hoạt động như đo, xem xét, thử nghiệm hoặc định cỡ (dưỡng) một hay nhiều đặc tính của sản phẩm và so sánh kết quả với yêu cầu quy định nhằm xác định sự phù hợp của mỗi đặc tính” [35, tr. Sách tra cứu các cụm từ về tổ chức viết: "kiểm tra: xem xét tình hình thực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nói chung hay một công tác cụ thể được giao của một cơ quan, đơn vị hoặc một người để đánh giá, nhận xét chất lượng hoạt động của cơ quan, đơn vị hoặc người đó. Kiểm tra thực hiện chức năng lãnh đạo, quản lý,." và "Kiểm tra cũng là công tác thuộc nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước, của tổ chức đảng, đoàn thể cấp trên đối với cấp dưới, của thủ trưởng đối với nhân viên dưới quyền” [61, tr. Như vậy, kiểm tra ở đây được hiểu là hoạt động xem xét, đánh giá, kết luận của chủ thể đối với đối tượng trong việc chấp hành các quy định mà tổ chức đã đặt ra.
Kiểm tra là một hoạt động có ý thức của con người. Trong cuộc sống của con người để tồn tại và phát triển thì không thể không có kiểm tra, mọi tổ 15 chức và cá nhân trước khi hành động đều xác định rõ chủ trương, kế hoạch tiến hành và tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, kế hoạch ấy trong thực tiễn. Song, thực tiễn luôn vận động và biến đổi không ngừng theo quy luật khách quan, nên chủ trương, kế hoạch dù được nghiên cứu, chuẩn bị kỹ lưỡng đến đâu đi nữa thì vẫn có thể có những thiếu sót, sơ hở, thậm chí là sai lầm với nhiều nguyên nhân. Mặt khác, nhận thức bao giờ cũng có quá trình; tổ chức dù mạnh, con người dù có tài năng, trình độ khoa học - công nghệ dù có phát triển cao cũng không thể một lúc mà hiểu hết được mọi vấn đề, mọi sự vật hiện tượng một cách đầy đủ, chính xác tuyệt đối.
Vì vậy, muốn công việc đạt được kết quả cao trong thực tiễn thì phải có kiểm tra. Mục đích của kiểm tra là để đánh giá kịp thời những ưu điểm, nguyên nhân để phát huy; đồng thời phát hiện khuyết điểm, nguyên nhân để rút kinh nghiệm, bổ sung, sửa chữa. Do đó, kiểm tra là hoạt động có ý thức của con người, ý thức của con người càng cao thì lại càng phải coi trọng hoạt động kiểm tra. * Khái niệm kiểm tra của Đảng: Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26/7/2016 của Ban Chấp hành Trung ương quy định thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng chỉ rõ: Kiểm tra của Đảng là việc các tổ chức đảng xem xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước [17, tr.
Quy định số 22-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII ghi rõ: Công tác kiểm tra, giám sát phải kịp thời phát hiện nhân tố mới, tích cực để phát huy, phải bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung; phải chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên ngay từ khi còn mới manh nha, không để vi phạm 16 nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng. Khi các vụ việc vi phạm được phát hiện, phải cương quyết xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời để răn đe và giáo dục. Tuân thủ đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục, thẩm quyền, phương pháp kiểm tra theo quy định, hướng dẫn của Đảng; chủ động, kịp thời, công khai, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh. Mọi tồ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, không có ngoại lệ [tr.
Như vậy, kiểm tra của Đảng là công việc của các tổ chức đảng có thẩm quyền, các tổ chức đảng là chủ thể kiểm tra của Đảng bao gồm: Chi bộ, đảng ủy bộ phận, ban thường vụ đảng ủy cơ sở, đảng ủy cơ sở; cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cấp trên cơ sở trở lên; ủy ban kiểm tra; các ban đảng, văn phòng cấp ủy (gọi chung là các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy); ban cán sự đảng, đảng đoàn (là chủ thể kiểm tra). Kiểm tra của Đảng phải được tiến hành thành cuộc, có thành lập đoàn hoặc tổ kiểm tra (sau đây gọi chung là đoàn kiểm tra). Đoàn kiểm tr làm việc theo Quyết định và kế hoạch, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ; sau mỗi cuộc kiểm tra phải có kết luận đúng, sai và chỉ ra được nguyên nhân, nội dung, giải pháp khắc phục. Trong kiểm tra của Đảng, bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra của các chủ thể có thẩm quyền, cần phát huy tinh thần tự kiểm tra của các tổ chức đảng và đảng viên, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng; đạt được mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, phương pháp kiểm tra đặt ra.
* Khái niệm công tác: Theo từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì công tác theo nghĩa danh từ là: “Công việc của nhà nước, của đoàn thể: tham gia công tác chính quyền, đi công tác” [68, tr.458]; theo nghĩa động từ thì, công tác là: “1. Thực hiện công việc của nhà nước, của đoàn thể: Chồng chị ấy công tác ở nơi 17 xa. (Máy móc) hoạt động, làm việc: Máy đang công tác bình thường” [68, tr. Như vậy, công tác được hiểu là việc công, tức là những công việc của Đảng, các tổ chức đảng, Nhà nước, các đoàn thể.
Đối với Đảng, các tổ chức đảng và đảng viên tiến hành công tác, tức là tổ chức đảng và đảng viên tiến hành các hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. * Khái niệm công tác kiểm tra của Đảng: Từ những điều nêu trên có thể khái niệm: Chương trình kiểm tra của Đảng là toàn bộ hoạt động của tổ chức đảng có thẩm quyền thông qua sử dụng nội dung, phương pháp, hình thức để xem xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân hoặc vi phạm của đối tượng trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Đảng. Vị trí, vai trò công tác kiểm tra của Đảng Thứ nhất, kiểm tra là chức năng lãnh đạo của Đảng. Từ thực tế lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta khẳng định: “Công tác kiểm tra có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng”.
Vì lãnh đạo không chỉ là việc xây dựng đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng; việc tổ chức thực hiện và bố trí cán bộ, mà lãnh đạo còn là kiểm tra và không những kiểm tra việc thực hiện đường lối, Cương lĩnh chính trị, chủ trương, chính sách mà kiểm tra ngay chính Cương lĩnh chính trị, đường lối, chính sách đó và kiểm tra cả các tổ chức tiến hành kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm đường lối, chính sách được xác định đúng, được quán triệt và thực hiện thắng lợi trong thực tiễn. Đó là vấn đề có tính nguyên tắc, vừa là 18 chức năng lãnh đạo, vừa là trách nhiệm, nội dung, phương thức, quy trình lãnh đạo của Đảng.Lênin chỉ rõ: khi đường lối, chính sách đã được xác định, phương hướng đã được thông qua thì nhiệm vụ tổ chức thực hiện phải đặt lên hàng đầu và sự lãnh đạo phải “chuyển trọng tâm từ việc soạn thảo các sắc lệnh và mệnh lệnh (.) sang việc lựa chọn người và kiểm tra sự thực hiện” [42, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi (. Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra.
Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích. Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn “pha”. Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng: chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra [43, tr.
Thực tiễn lãnh đạo của Đảng ta từ khi thành lập đến nay đã khẳng định kiểm tra là chức năng lãnh đạo của Đảng; lãnh đạo phải có kiểm tra; lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không có lãnh đạo. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả CTKT, giám sát, kỷ luật đảng: Tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của toàn Đảng đối với CTKT, giám sát, kỷ luật đảng. Xây dựng và hoàn thiện quy định, quy chế, quy trình nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả CTKT, giám sát, kỷ luật đảng. Cải tiến, đổi mới phương pháp, kỹ năng, quy trình CTKT, giám sát, kỷ luật đảng, bảo đảm khách quan, dân chủ, đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ, khả thi.
Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tiêu cực, nơi người dân có nhiều bức xúc, dư 19 luận xã hội quan tâm; xử lý kịp thời, kiên quyết, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.