Chương 1 Năng lực tư duy lý luận và vai trò của nó đối với cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh 1. Tư duy lý luận và năng lực tư duy lý luận 1. Bản chất của tư duy lý luận Để hiểu được bản chất của tư duy lý luận, trước tiên, phải làm rõ phạm trù tư duy. Xét về thực chất thì tư duy là chức năng đặc bi ệt riêng có c ủa b ộ óc con người.
8 Đó là quá trình ý thức con người tiếp cận và nắm bắt hiện thực; là hình thức cao của sự phản ánh tích cực, chủ động, có m ục đích v ề hi ện thực khách quan và được hiện ra là sự nhận thức có tính trung gian gián tiếp khái quát về các mối liên hệ của sự vật và hiện tượng. T ư duy v ới t ư cách là thuộc tính không thể thiếu trong hoạt động ch ủ quan c ủa con người được thể hiện rõ nhất, tập trung nhất trong hoạt động sáng t ạo và trong việc tiên đoán về các sự kiện, hiện tượng của thế giới. Nó cũng được xuất hiện, hiện thực hóa trong quá trình đặt ra và giải quyết những vấn đề của lý luận, của thực tiễn con người. Tư duy là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là b ộ óc người.
Hoạt động của bộ óc người phản ánh hiện thực khách quan b ằng các hình thức: khái niệm, phán đoán, suy lý. thông qua các phương pháp: so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa. Như vậy, xét về thực chất, tư duy là sự hoạt động đặc biệt của quá trình con người phản ánh thế giới, là quá trình phản ánh dựa trên sự hoạt động c ủa b ộ não nhằm nhận thức bản chất, quy luật vận động của thực tại khách quan và định hướng quan hệ đối với thực tại khách quan đó. Nh ững quy lu ật c ủa tư duy chính là sự phản ánh các quy luật của thực tại khách quan.
T ừ những hình ảnh nguyên vẹn của sự vật, hiện tượng trong thế giới do cảm giác mang lại được tư duy chắt lọc loại bỏ những mặt, những yếu tố bên ngoài, ngẫu nhiên trên cơ sở sáng tạo mà tìm ra những mặt cơ bản, tất yếu, những quan hệ bản chất, bên trong, mang tính quy luật. Từ đ ấy, hình thành nên những khái niệm, phạm trù tương ứng với các mặt, các quan hệ tất yếu của chúng; dựa vào đó mà xây dựng nên hình ảnh mới, những quy luật khái quát xu hướng vận động và phát triển của các sự vật. Với ý nghĩa như vậy, tư duy chỉ có ở con người, là trình độ cao nhất của nhận thức trong quá trình phản ánh thế giới khách quan. Nhưng đó không phải là sự 9 phản ánh thụ động, phụ thuộc mà con người tác động và phản ánh thế giới một cách chủ động, sáng tạo.
Tư duy là hình thức phản ánh tích cực thực tại khách quan c ủa con người [62, tr. Đó là hoạt động phản ánh ở giai đoạn cao nh ất c ủa nhận thức. Nếu con người chỉ dừng lại bằng các hình thức như c ảm giác, tri giác… thì nhận thức của con người rất hạn chế, bởi vì con người không thể bằng các hình thức đó mà hiểu được những vấn đề sâu xa hơn trong tự nhiên cũng như những hiện tượng xã hội phức tạp khác. Với tư cách là kết quả của sự vận động, năng động của ý thức, tư duy bao gi ờ cũng là s ự phản ánh trung gian, gián tiếp, khái quát tích cực về thế giới khách quan.
ở giai đoạn cao của nhận thức, sự vật được phản ánh một cách gián ti ếp, khái quát trong các khái niệm, phán đoán thông qua các thao tác trung gian hóa, trừu tượng hóa và khái quát hóa. Và chính nhờ các thao tác này mà tư duy thể hiện được sức mạnh của mình. Tư duy là sự phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực khách quan, đó là quá trình năng động, sáng tạo. Tính sáng tạo của t ư duy là ở ch ổ nó đem lại những tri thức mới về bản chất, cái bên trong, những quy luật của hiện thực khách quan vốn rất đa dạng, phong phú và biến đổi không ngừng.
Nhờ tính sáng tạo mà tư duy phân tích và phân loại sự vật, nắm bắt những tri thức ẩn chứa bên trong sự vật, hiện tượng. Tư duy giúp con người hiểu đúng về sự vật và đưa ra những biện pháp để tác động chính xác vào chúng. Nhờ bản chất sáng tạo mà tư duy luôn là một quá trình vươn tới cái mới, nhận thức ngày càng đúng đắn và đầy đủ hơn về thế giới khách quan. Tư duy xuất hiện, biến đổi và phát triển trong quá trình hoạt đ ộng thực tiễn của con người.
Thực tiễn là cơ sở, động lực và là tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng, sai của tư duy. Mục đích của tư duy hướng tới là để ph ục v ụ cho thực tiễn; chính quá trình tư duy sẽ tìm ra những biện pháp, cách thức 10 để hiện thực hóa mình thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Để có thể tác động, biến đổi hiện thực, trước tiên con người phải tìm cách nhận thức và hiểu biết về nó. Hoạt động tác động, biến đổi hiện thực lại là cơ sở cho nhận thức, tư duy mang tính sáng tạo và phát triển không ngừng.
Bởi vì, xuất phát từ hoạt động làm biến đổi hiện thực đó mà các s ự v ật, hi ện tượng trong thế giới hiện thực bộc lộ các thuộc tính, tính chất. Trên cơ sở đó con người mới hiểu biết về sự vật, hiện tượng. Đây là quá trình không có giới hạn cuối cùng của hoạt động nhận thức của con người. Hơn n ữa, hoạt động của tư duy còn là hoạt động vận dụng, sử dụng, kết hợp các khái niệm để sáng tạo ra các khái niệm mới, phản ánh các quan hệ tất yếu, các quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan.
Đồng thời, hoạt động của tư duy cũng là quá trình vận dụng tri thức thu được vào ho ạt động thực tiễn của con người, làm cho hoạt động đó phát triển, t ừ đó mà tư duy lý luận cũng không ngừng phát triển. Chính vì thế, cả n ội dung và hình thức của tư duy đều phụ thuộc vào thực tiễn lịch sử – xã hội. Lịch sử không phải bắt đầu từ tư duy mà là từ hoạt động thực tiễn của con người. Trong đó, hoạt động lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội là hoạt động cơ bản nhất.
Hoạt động này càng phát triển thì tư duy, trí tuệ của con người cũng càng phát tri ển theo. Ăngghen đã nhận định rằng: "Trí tuệ con người đã phát tri ển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên" [32, tr. Như vậy, thông qua hoạt động thực tiễn của mình, con người đã chủ động nhận thức và cải tạo thế giới. Tư duy của con người là do hi ện th ực khách quan quy định; nhưng chính hoạt động thực ti ễn c ủa con ng ười l ại là cơ sở, động lực cơ bản cho sự xuất hiện và phát tri ển c ủa t ư duy.
Th ực tiễn cũng là tiêu chuẩn để kiểm tra, điều chỉnh quá trình tư duy, xác nh ận cho tính đúng đắn của tư duy, loại bỏ những sai lầm, tạo sự phát triển liên tục của tư duy con người. 11 Tư duy của con người luôn mang tính sáng tạo, hoạt động c ủa t ư duy luôn vươn tới những giá trị mới thông qua hoạt động nhận th ức và thực tiễn. Hoạt động thực tiễn là cơ sở, động lực của tư duy. Do v ậy, khi hoạt động thực tiễn còn ở một trình độ thấp thì ứng với nó là cấp đ ộ t ư duy ở trình độ thấp.
Khi hoạt động thực tiễn đạt đến trình đ ộ cao h ơn thì phương pháp tư duy, trình độ tư duy cũng được nâng lên. Ở trình độ tư duy, sự vật được phản ánh khái quát trong các hình thức khái niệm, phán đoán, suy luận. Tư duy luôn gắn li ền v ới ngôn ng ữ, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, tư duy phải được diễn đạt thành ngôn ngữ bởi vì đó là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, là phương tiện để diễn đạt kết quả của sự nhận thức, để lưu giữ và tiếp tục phát triển kết quả của nhận thức đó. Nhờ thế mà con người có thể sáng tạo ra những khái niệm và những phạm trù khoa học, nêu lên những quy lu ật c ủa các khoa học và vì vậy mà hiểu sâu sắc hơn bản chất của các sự vật.
Nếu không có ngôn ngữ sẽ không có phương tiện để tư duy và tư tưởng của loài người không thể lưu giữ, kế thừa và phát triển được. Thế giới vô cùng, vô tận (cả về bề rộng lẫn chiều sâu), thực tiễn thì luôn luôn mới, điều đó đòi hỏi tư duy phải luôn năng đ ộng, sáng t ạo phát hiện ra những cái mới, những tình huống có vấn đề trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn, đưa ra những giải đáp đáp ứng cho nhu c ầu cuộc sống. Vì vậy, tư duy là một quá trình vô tận, vận động và phát tri ển không ngừng. Tư duy của con người không thể bất biến mà nó cũng có quá trình biến đổi và phát triển ngày càng đạt được trình độ cao hơn.
Khi xem xét tư duy như một quá trình, một bản tính phát triển chung của con người thực tiễn xã hội, tư duy thể hiện ra khuynh hướng phát triển tất yếu của nó. Tư duy con người theo Ăngghen vừa tối cao vừa không tối cao. Xét theo sự thực hiện cá biệt - chủ thể cụ thể của tư duy thì nó không tối cao và có hạn. Xét theo bản tính và khả năng thì tư duy của con người là tối cao và 12 vô hạn.
Chủ nghĩa Mác - Lênin khi đề cập về khả năng nhận th ức c ủa con người đã cho rằng, chỉ có những cái con người chưa biết ch ứ không có những cái mà con người không thể biết. Tư duy là sản phẩm của lịch sử, nó xuất hiện trong lịch sử, qua quá trình hoạt động thực tiễn của con người. Tư duy không xuất hi ện trên mảnh đất trống không mà nó chính là sự kết hợp giữa sự kế thừa các lối tư duy truyền thống với lối tư duy trong hoàn cảnh của thực tại.