Chương 1 Năng lực tư duy lý luận và vai trò của nó đối với hoạt động lãnh đạo của người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh 1. Năng lực tư duy lý luận 1. Bản chất tư duy lý luận Để xác định được nội dung của phạm trù năng lực tư duy lý lu ận, trên cơ sở ấy mà nhận rõ vai trò của nó cũng như nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, trước hết cần làm rõ nội dung khái niệm tư duy. Để hiểu khái niệm tư duy, một mặt chúng ta phân biệt nó với "ý thức" và "nhận thức" vì chúng là những khái niệm có mối liên hệ mật thiết, thống nhất hữu cơ với nhau.
Mặt khác, chúng ta nghiên c ứu t ư duy nh ư một phạm trù có tính lịch sử. Theo Mác, ý thức chỉ là vật chất được di chuyển vào trong b ộ óc người và được cải biến đi ở trong đó [41, tr. Còn Lênin thì cho r ằng ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan [24, tr. Nói ý thức là hình ảnh chủ quan là theo nghĩa sự phản ánh thế giới bởi bộ óc ng ười gắn liền với hoạt động khái quát hóa, trừu tượng hóa, có đ ịnh h ướng, có lựa chọn, nhằm tạo ra những hình ảnh sâu sắc và nhiều m ặt v ề th ế gi ới khách quan.
Tuy là hình ảnh chủ quan nhưng ý thức lại lấy thế giới khách quan (các sự vật, hiện tượng, quá trình.) làm tiền đề, bị chế định bởi "cái khách quan" và có nội dung phản ánh là "cái khách quan" ấy. C ố nhiên, không phải chỉ cần thế giới xung quanh tác động lên bộ óc con ng ười là mặc nhiên sinh ra ý thức. Bởi vì, ý thức là một hiện tượng xã h ội, ". ngay từ đầu ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại" [39, tr.
Sự ra đời, tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người, chịu sự chi phối không chỉ của các quy luật 6 sinh học mà chủ yếu của các quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của con người quy định. ý th ức có k ết cấu phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí. trong đó, tri thức là thành tố quan trọng nhất. Quá trình hình thành và phát triển ý thức cũng chính là quá trình con người tìm hiểu, tích lũy tri thức về thế giới xung quanh.
Hiểu biết về sự vật càng nhiều thì ý thức của con người về sự vật đó càng sâu sắc. Tóm lại, ý thức là hình thức phản ánh riêng có ở con người, khác v ề chất so với phản ánh tâm lý ở động vật. ý thức là toàn bộ các quá trình tâm lý tích cực tham gia vào sự hiểu biết của con ng ười đ ối v ới th ế gi ới khách quan. Nhận thức - theo lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật bi ện chứng - là quá trình phản ánh tích cực và sáng tạo hiện th ực khách quan bởi con người trên cơ sở của thực tiễn lịch sử - xã hội.
Nh ận th ức cũng là sự phản ánh hiện thực khách quan bởi bộ óc của con ng ười. Nh ưng s ự phản ánh đó không phải là một hành động nhất th ời, máy móc gi ản đ ơn, thụ động mà là một quá trình phức tạp của hàng loạt hoạt động trí tuệ tích cực và sáng tạo. con người không ch ỉ ph ản ánh th ế gi ới khách quan mà còn tạo ra thế giới khách quan" [28, tr. Nhận thức, tuy cũng là sự phản ánh hiện thực khách quan bởi bộ óc con người nhưng khác với ý thức và hoàn toàn khác với hành vi phản ánh ở động vật về chất.
Nhận thức của con người là quá trình phản ánh hi ện th ực khách quan một cách tích cực và sáng tạo là nhờ có hoạt động thực tiễn. Theo Lênin, nhận thức là một quá trình "từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách 7 quan [28, tr. Nhận thức là một quá trình biện chứng, quá trình ấy bao gồm hai giai đoạn là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Tuy khác nhau về chất nhưng nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có sự thống nhất hữu cơ, tác động biện chứng với nhau.
Chúng bổ sung, hỗ trợ cho nhau, đem lại cho con người những hiểu biết ngày càng đ ầy đ ủ h ơn, toàn diện hơn và sâu sắc hơn về các sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới. Tóm lại, nhận thức là quá trình phản ánh và tái tạo l ại hi ện th ực trong đầu óc của con người, được quyết định b ởi nh ững quy lu ật phát triển xã hội và gắn liền với hoạt động thực tiễn [72, tr. Vậy tư duy khác gì với nhận thức? Tư duy không phải là hệ ý thức mà là hình thức cao của sự phản ánh tích cực thực tại khách quan của con người [72, tr. Đó là hoạt động phản ánh ở giai đoạn cao nhất của nhận th ức.
N ếu chỉ bằng cảm giác, tri giác thì nhận thức của con người rất hạn chế, bởi vì con người không thể bằng cảm giác mà nhận thức, mà hi ểu đ ược nh ững vấn đề như tốc độ ánh sáng, âm thanh hay những hiện tượng xã hội phức tạp khác. Muốn hiểu được những vấn đề đó không thể có gì thay th ế ngoài việc sử dụng sức mạnh của tư duy. Tư duy là sự phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực khách quan. Đó là quá trình năng động, sáng tạo, nó có thể ph ản ánh đ ược nh ững m ối liên hệ bản chất, tất nhiên bên trong của sự vật, đem l ại cho nh ận th ức khoa học những tri thức mới về tính quy luật chi phối sự vận động và phát triển của sự vật.
Tư duy phải gắn liền với ngôn ngữ, ngôn ngữ là cái v ỏ v ật ch ất c ủa tư duy, tư duy phải được biểu đạt thành ngôn ngữ, nhờ đó mà con ng ười có thể sáng tạo ra những khái niệm và những ph ạm trù khoa h ọc, nêu lên những quy luật của các khoa học và do đó hiểu sâu sắc h ơn bản ch ất c ủa 8 các sự vật. Nếu không có ngôn ngữ sẽ không có ph ương ti ện đ ể t ư duy và tư tưởng của loài người không thể lưu giữ kế thừa và phát triển được. Chủ nghĩa duy tâm cho rằng, tư duy là sản vật của bản nguyên siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất, đó là "ý ni ệm tuy ệt đ ối", "ý niệm siêu nhiên". song, sự phát triển của khoa h ọc đã bác b ỏ nh ững quan điểm đó và đã chứng minh được rằng tư duy là thuộc tính của m ột dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người.
Hoạt động của b ộ óc ng ười phản ánh hiện thực khách quan bằng các hình thức khái niệm, phán đoán, suy lý. thông qua các phương pháp như so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa. Như vậy, xét về thực chất, tư duy là s ự ho ạt động đặc biệt của quá trình con người phản ánh thế giới, là quá trình phản ánh dựa trên sự hoạt động của bộ não nhằm nhận thức bản chất, quy luật vận động của thực tại khách quan và định hướng quan hệ đối với thực tại khách quan đó. Những quy luật của tư duy là sự phản ánh các quy luật của thực tại khách quan.
Những hình ảnh của sự vật trong th ế gi ới, t ừ nh ững hình ảnh trực tiếp, nguyên vẹn của cảm giác được tư duy chắt lọc loại bỏ những mặt, những yếu tố bề ngoài ngẫu nhiên trên cơ sở sáng tạo mà tìm ra những mặt cơ bản, tất yếu, những quan hệ bản chất, bền vững. T ừ đó hình thành nên những khái niệm, phạm trù tương ứng với các m ặt, các quan hệ tất yếu của chúng; dựa vào đó mà xây dựng nên hình ảnh m ới, những quy luật khái quát xu hướng vận động và phát triển của các sự vật. Với ý nghĩa đó, tư duy chỉ có ở con người và là trình độ cao nhất của nhận thức con người trong quá trình phản ánh thế giới khách quan. Nh ưng đó không phải là sự phản ánh thụ động, phụ thuộc mà con người ch ủ đ ộng tác động vào thế giới và phản ánh chủ động sáng tạo.
Để có thể tác động, biến đổi hiện thực, trước tiên con người phải tìm cách nhận thức và hiểu biết về nó. Hoạt động tác động, biến đổi hiện thực lại là cơ sở cho nhận thức, tư duy mang tính sáng t ạo và phát tri ển không 9 ngừng. Bởi vì, xuất phát từ hoạt động làm biến đổi hiện thực đó mà các sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực bộc lộ các thuộc tính, tính ch ất. Trên cơ sở đó con người mới hiểu biết về sự vật, hiện tượng.
Đây là quá trình không có giới hạn cuối cùng của hoạt động nhận thức của con người. Hơn nữa, hoạt động của tư duy còn là hoạt động vận dụng, sử dụng, k ết hợp các khái niệm để sáng tạo ra các khái niệm mới, phản ánh các quan hệ tất yếu, các quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan. Đ ồng thời, hoạt động của tư duy cũng là quá trình vận d ụng tri th ức thu đ ược vào hoạt động thực tiễn của con người, làm cho hoạt động đó phát tri ển, từ đó mà tư duy lý luận cũng không ngừng phát triển. Chính vì thế, c ả nội dung và hình thức của tư duy đều phụ thuộc vào thực tiễn lịch sử - xã hội.
Lịch sử không phải bắt đầu từ tư duy mà là từ hoạt động thực tiễn của con người. Trong đó, hoạt động lao động sản xuất của c ải v ật ch ất t ạo ra n ền tảng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội là hoạt động cơ bản nhất. Hoạt động này càng phát triển thì tư duy, trí tuệ của con ng ười cũng càng phát triển theo. Ăngghen đã nhận định rằng: "Trí tuệ con người đã phát tri ển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên" [40, tr.