CHƯƠNG 1 NHO GIÁO VÀ QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC NGƯỜI CẦM QUYỀN 1. KHÁI QUÁT VỀ NHO GIÁO VÀ TƯ TƯỞNG CỦA NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC NGƯỜI CẦM QUYỀN 1. Quá trình hình thành và phát triển Nho giáo là một trong những học thuyết có sức sống mãnh liệt và lâu dài trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Nó đã vượt qua nhiều thử thách của không gian và thời gian để trường tồn cho đến tận ngày nay.
Những tư tưởng của Nho giáo đã được cả thế giới quan tâm nghiên cứu. Hệ tư tưởng Nho giáo là hệ tư tưởng thống trị xã hội phong kiến Trung Quốc trong hầu hết các giai đoạn phát triển của quốc gia phong kiến này. Nho giáo xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên. Trong quá trình tồn tại và phát triển, từ nhà Hán đến nhà Thanh, Nho giáo là hệ tư tưởng thống trị xã hội.
Nho giáo nguyên thủy hay còn gọi Nho giáo thời kỳ “Khổng - Mạnh”. Nho giáo được Khổng Tử lập ra thời Xuân Thu. Học thuyết của ông được Mạnh Tử và Tuân Tử tiếp tục hoàn thiện ở thời Chiến Quốc và nó chỉ thực sự trở thành tư tưởng thống trị phải kể từ Đổng Trọng Thư trở đi. Khổng Tử được các học trò tôn xưng là bậc “chí thánh tiên sư, vạn thế sư biểu”.
Mạnh Tử cũng được tôn xưng là bậc “nhị thánh” của Nho giáo. Trãi qua nhiều nỗ lực của giai cấp thống trị và sĩ phu thời Hán, tư tưởng Nho gia của Khổng Tử mới trở thành tư tưởng chính thống cho nhà nước phong kiến Trung Hoa. Từ đây, “tư tưởng Khổng - Mạnh” mới hình thành nên hai khái niệm Nho giáo và Nho gia. Nho gia mang tính học thuật.
Còn Nho giáo ít nhiều có tính chất tôn giáo. Ở Nho giáo, văn miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành. Luan van 9 Trong giai đoạn Hán nho, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt 2000 năm. Vào đời Hán, Đại học và Trung dung được gộp vào Lễ ký.
Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên làm quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng. Vì vậy, Nho giáo thời kỳ này còn được gọi là Hán nho. Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị. Thiên Tử là con trời, thực hiện dùng “lễ trị” để che đậy “pháp trị”.
Nho giáo truyền đến cuối đời Đông Hán, bề ngoài thì rất thịnh mà bên trong thì thật là suy. Các học giả chỉ chăm chú về lối chương cú, chia ra chi nọ phái kia. Mỗi phái học theo một lối, rồi cãi nhau về nghĩa từng câu, từng chữ. Trong giai đoạn Tống nho, các nhà vua rất sùng bái Nho học vì thế Khổng Tử và Mạnh Tử rất được tôn trọng.
Vào đời nhà Tống, Đại học và Trung dung được tách ra khỏi Lễ ký và cùng với Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư. Từ đó, Tứ thư và Ngũ kinh là sách gối đầu giường của các nhà Nho. Nho giáo thời kỳ này được gọi là Tống Nho, với các tên tuổi như Chu Hy, Trình Hạo và Trình Di. Trong giai đoạn Tống Nho, Nho giáo cũng được chia thành nhiều phái khác nhau.
Trong khi về đường học vấn có phái lý học phát triển thì về đường chính trị chia làm hai phái là Tân Đảng và Cựu Đảng. Hai bên đều lấy cái chủ nghĩa Nho giáo mà công kích nhau kịch liệt. Tân Đảng thì muốn theo thời mà sửa đổi, nhằm cho binh cường nước mạnh. Cựu Đảng thì cho rằng việc trị nước cần theo chế độ đời trước, cốt làm cho dân chúng được an cư lạc nghiệp.
Hai bên tranh giành nhau lúc tiến, lúc thoái, mãi đến cuối đời Nam Tống mới kết thúc cuộc tranh giành. Trong giai đoạn đời nhà Nguyên, Nho giáo tuy so với đời trước thì không bằng, nhưng cũng rất thịnh đạt. Những học giả như Triệu Phục, Hứa Hành và Hứa Khiêm đều là người có đức hạnh, rất xứng đáng là danh nho một thời. Tuy nhiên, Nho học trong thời Nguyên chỉ bó hẹp trong phạm vi Luan van 10 Trình Chu mà thôi, bởi ai cũng cho rằng Nho học đến đó là cùng cực rồi.
Bởi vậy, Nho học thời Nguyên chỉ nhằm giữ lấy cái danh tiết cho trong sạch chứ không ai phát triển thêm được điều gì cao minh hơn nữa. Trong giai đoạn đời nhà Minh - Thanh, Nho giáo có nhiều bước phát triển mạnh mẽ. Vào thời kỳ đầu đời nhà Minh, các học giả vẫn còn theo lối học của nhà Nguyên, chưa ai đề xướng ra học thuyết nào mới cả. Kể từ đời vua Nhân Tông đến vua Mục Tông, Nho giáo thịnh hành hơn trước và có nhiều học giả lừng danh.
Nhưng xét đến cùng, Nho học đời Minh không ra ngoài phạm vi Tống học và “cái học ấy từng chia ra chi nọ, phái kia nhưng kết cục vẫn theo cái tôn chỉ thiên địa vạn vật nhất thể, và về đường thiết thực vẫn cố giữ cái khí tiết của học giả” [46, tr. Vào thời nhà Thanh, nhất là đời vua Khang Hy, không những các phái như Hán học và Tống học đều thịnh hành mà phái Tây học cũng có thế lực. Nho học đời nhà Thanh tuy là rất thịnh nhưng đa số các học giả đều làm sách vở, nghiên cứu tường tận theo phương pháp khoa học. Nên “Thanh nho chỉ có cái tư cách khoa học mà không có cái tinh thần triết học.
Những danh nho trong khoảng ba thế kỷ đó đều là người bác học, song không có mấy người hiểu biết chỗ uyên thâm của Nho giáo như đời Tống và đời Minh” [46, tr. Trong thời kỳ hiện đại, Nho giáo đã được đề cập rất nhiều bởi những giá trị tiềm tàng của nó đã, đang và sẽ thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu văn hoá trên phạm vi cả thế giới. Đã có nhiều cuộc Hội thảo bàn về Nho giáo được tổ chức nhiều ở các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Singapo, Việt Nam. Tựu trung lại, mục tiêu của việc này là nhằm đánh giá một cách khách quan hơn vai trò của Nho giáo trong các học thuyết triết học Trung Hoa với quá trình phát triển nhân loại trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Ngày nay, chúng ta tìm hiểu những triết lý của Nho giáo không chỉ để thấy được sự vĩ đại của các triết gia mà còn để “coi trọng giáo dục đạo lý làm Luan van 11 người, ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, đạo đức, lối sống, nếp sống có văn hoá, lịch sử dân tộc và bản sắc dân tộc, ý chí vươn lên vì tương lai của mỗi người và tiền đồ của đất nước, bồi dưỡng ý thức và năng lực phát huy giá trị văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại” [33, tr.55] trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Tư tưởng cơ bản của Nho giáo về đạo đức người cầm quyền a. Đường lối đức trị và mẫu người cầm quyền Nho giáo về thực chất là một học thuyết chính trị đạo đức mà biểu hiện của nó tập trung ở đường lối “đức trị”. Đó là một đường lối của giai cấp phong kiến Trung Quốc chủ trương dùng “đức trị” để quản lý xã hội.
Hệ thống các phạm trù, nguyên lý, chuẩn mực, quy phạm đạo đức trong học thuyết Nho giáo không chỉ phản ánh các quan hệ đạo đức mà còn phản ánh các quan hệ chính trị của xã hội và con người. Những nguyên tắc đạo đức của Nho giáo như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín vừa là chuẩn mực để điều chỉnh hành vi của con người, vừa là những biện pháp để bảo đảm cho chính trị, nhân nghĩa được thực hiện. Khổng Tử quan niệm: “Làm chính trị mà dùng đức thì như sao Bắc Đẩu ở một nơi mà các ngôi sao khác hướng về cả” [49, tr. Trước sau ông vẫn tin rằng: “Dùng chính lệnh để dẫn dắt dân, dùng hình phạt để bắt dân vào khuôn phép, dân tránh khỏi tội nhưng không biết hổ thẹn.
Dùng đạo đức để dắt dẫn dân, dùng lễ giáo để đặt dân vào khuôn phép, dân biết hổ thẹn mà lại theo đường chính” [49, tr. Với Nho giáo, người làm chính trị phải chú trọng tu dưỡng nội tâm, có phẩm chất cao thượng để dẫn dắt người khác. Về sau, Mạnh Tử cũng kế thừa và nâng cao tư tưởng đức trị bằng phạm trù “nhân nghĩa”. Mạnh Tử đã nói: “Nếu người bậc trên mà vui với sự vui của dân thì dân cũng vui với sự vui của mình; nếu mình buồn với sự buồn của dân, thì dân cũng buồn với sự buồn của mình.
Bậc quốc trưởng mà chia vui với thiên hạ, chia buồn với thiên hạ thì thế nào nền cai trị của mình cũng có Luan van 12 bề hưng vượng vậy” [20, tr. Với các nhà cầm quyền, theo Mạnh Tử chỉ có một phương pháp nên theo là “dân muốn việc gì, nhà cầm quyền nên cung cấp cho họ. Dân ghét việc gì nhà cầm quyền đừng thi thố cho họ” [21, tr. Có thể khẳng định, “đức trị” là nguyên tắc tối cao của Nho giáo.
Bởi vì, Nho giáo coi đạo đức là công cụ, phương tiện chủ yếu nhất, hữu hiệu nhất để đạt được những mục đích chính trị và nhân sinh. Nho giáo coi đạo đức, lễ giáo không chỉ là mục đích, mà còn là công cụ, phương tiện chủ yếu, có vai trò quyết định trong việc củng cố, duy trì địa vị, quyền lợi của giai cấp thống trị trong việc trị nước, quản lý xã hội. Như vậy, học thuyết “đức trị” đã chứa đựng hầu hết các giá trị tinh hoa của Nho giáo và ngày nay vẫn cần được chúng ta tiếp tục nghiên cứu sâu để tìm trong đó nhiều bài học bổ ích. Nghiên cứu về học thuyết “đức trị” của Nho giáo, chúng ta thấy nó đóng một vai trò rất quan trọng chính sách “trị nước, an dân” trong lịch sử.
Bởi vì, đối với các xã hội phong kiến Á Đông, đường lối “đức trị” luôn là đường lối trị nước duy nhất trong hơn hai nghìn năm lịch sử. Trong quan niệm của Nho giáo, tư tưởng đức trị có vai trò là cơ sở, căn cứ để định hướng và chỉ đạo việc thực hiện đường lối cai trị, quản lý xã hội bằng những chuẩn mực, quy phạm đạo đức. Các phạm trù đạo đức căn bản của Nho giáo là những chuẩn mực đạo đức cần có và là phương tiện để hoàn thiện nhân cách đạo đức của con người trong xã hội.