Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, chức năng, nhiệm vụ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số 1. Khái niệm cán bộ Cán bộ là một khái niệm được phổ biến nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những người được bầu, bổ nhiệm trong cơ quan Đảng và Nhà nước, do tính chất đặc thù của mỗi quốc gia, khái niệm cán bộ của các nước không đồng nhất. Một số nước khác có quan niệm rộng hơn, cán bộ không chỉ bao gồm những người thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý Nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc trong các cơ quan có tính chất công cộng.
Tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 158/2007/NĐ-CP quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi với cán bộ, công chức, viên chức như sau: “Cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý” là người được bầu cử hoặc được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm và giữ chức vụ có thời hạn trong cơ quan Đảng, Nhà nước và được hưởng phụ cấp lãnh đạo. Cán bộ là những người điều hành quyền lực Nhà nước, được bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều chỉnh của Hiến Pháp, Luật cán bộ, công chức năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2013. Khái niệm lãnh đạo Lãnh đạo là quá trình hoạt động của người mang tính định hướng, gây ảnh hưởng, tạo dựng niềm tin, thuyết phục người khác để họ đồng thuận trong việc thực hiện đường lối, chủ trương hướng tới mục tiêu cụ thể nào đó. Người lãnh đạo có cái nhìn tổng quát hơn, hướng đến mục tiêu dài hạn, chú trọng vào các vấn đề trao đổi, giao tiếp, thúc đẩy, tạo động lực và thu hút nguồn nhân lực thực hiện mục tiêu đã định hướng.
Khái niệm quản lý Quản lý là việc thực hiện các chức năng, quy trình, quy định trong khuôn khổ các thể chế được xác định như kế hoạch hóa, tổ chức, điều phối, kiểm soát các hoạt động để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Người quản lý làm cho nhân viên phải phục tùng, tuân thủ do thẩm quyền từ vị trí của họ có được. Khái niệm người dân tộc thiểu số Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số ( có số ít hơn với dân tộc Kinh) trên phạm vi lãnh thổ nước Việt Nam, được quy định Tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP. Khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số, là những người dân tộc ít người được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội được quy định Tại Điều 4, Khoản 3 Luật cán bộ, cán bộ năm 2008.
Cơ cấu cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã theo Điểm a; b; c, Khoản 2, Điều 61 của Luật cán bộ, công chức 2008, quy định các chức danh sau đây: a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân; c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân; Như vậy, người dân tộc thiểu số làm việc Nhà nước thuộc phạm vi điều chỉnh tại Khoản 3 Điều 4 và Điểm a; b; c Khoản 2 Điều 61 của Luật cán bộ, công chức năm 2008, là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số. Đặc điểm dân tộc thiểu số, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số 1. Đặc điểm dân tộc thiểu số Người dân tộc thiểu số là những tộc người luôn đoàn kết gắn bó mật thiết với nhau theo dòng tộc, sống theo làng, bản, họ có tiếng nói và phong tục tập quán riêng biệt, sống chủ yếu bằng nghề lao động chân tay, sản xuất tự cung, tự cấp, phương thức canh tác chủ đạo làm nương, rẫy và canh tác theo thói quen, cuộc sống nghèo 8 n nàn, lạc hậu, thiếu thốn về vật chất, tinh thần so với người đa số, thiếu tính toán hợp lý và mất cân đối giữa thu và chi, ít được cập nhật kiến thức về khoa học. Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình đọ nhận thứ tiếp nhận, ứng dụng khoa học, kỹ thuật họ là những người tiếp cận muộn hơn so với dân tộc đa số 1.
Đặc điểm của cán bộ cấp xã là người dân tộc thiểu số Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số là những người dân tộc ít người, họ trưởng thành về thể chất, về mặt xã hội, họ được bầu hoặc bổ nhiệm giữ một chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan Đảng, chính quyền cấp xã, là những người tự làm chủ được hành vi, thái độ của mình và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là một công dân. Đồng thời họ trưởng thành về mặt xã hội được biểu hiện ở giá trị sản phẩm lao động được xã hội công nhận, thể hiện ở cuộc sống riêng tư, họ có đủ điều kiện hành vi trước pháp luật, có vị thế trong xã hội, đang giữ chức vụ hoặc trách nhiệm nhất định trong hệ thống hành chính cấp xã để lãnh đạo, điều hành quyền lực của Nhà nước quản lý xã hội ở cấp xã. Tuy nhiên, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số năng lực công tác còn hạn chế, trình độ chuyên môn chưa được chuẩn hóa do việc tiếp cận muộn hơn so với dân tộc đa số. Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là người dân tộc thiểu số 1.
Vai trò Hoạt động lãnh đạo, quản lý tạo nên sức mạnh tập thể trên cơ sở thống nhất ý chí và hành động. Mỗi cộng đồng dân cư trên địa bàn xã dù có khác biệt với nhau trên nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực, nhưng họ đều có những lợi ích chung như môi trường, trật tự trị an, cơ sở hạ tầng giao thông, y tế, trường học, nước sinh hoạt, cơ sở vật chất, đời sống tinh thần,… Nếu không có cấp lãnh đạo, quản lý cơ sở họ sẽ khó thống nhất về ý chí và hành động về mục tiêu cuộc sống tốt hơn. Cấp xã là nơi hỗ trợ trực tiếp cho người dân khi họ gặp khó khăn, hoạn nạn, là nơi tạo điều kiện cho 9 n người dân tham gia vào hệ thống chính trị của quốc gia nói chung, hệ thống chính trị ở cở nói riêng. Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là đầu mối để triển khai, thực hiện chính sách chung có hiệu quả cho Nhân dân, là nơi phản ánh nguyện vọng, nhu cầu của của Nhân dân với cấp trên để được hỗ trợ, giải quyết.
Hoạt động lãnh đạo, quản lý ở cơ sở góp phần tạo dựng sức mạnh bền vững của cả hệ thống chính trị Nhờ có hoạt động lãnh đạo, quản lý ở cơ sở mà hoạt động của người dân và các tổ chức đóng quân trên địa bàn mới đi vào nề nếp, kỷ cương, giảm nhẹ nhiệm vụ quản lý, giám sát của cấp trên. Sự hoạt động chuyên nghiệp, linh hoạt và tận tâm của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở sẽ làm tăng uy tín của cả hệ thống chính trị. Nếu hoạt động lãnh đạo, quản lý ở cơ sở yếu kém sẽ làm cho cả hệ thống chính trị cấp xã không bền vững, làm phai nhạt niềm tin của quần chúng vào cả hệ thống chính trị. Chức năng Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số là những người làm công tác chỉ đạo, lãnh đạo, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện chức năng lãnh đạo, quản lý về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện các nhiệm vụ khác do cấp trên giao; trực tiếp tiếp xúc, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, giải trình với Nhân dân, thực hiện chức năng lãnh đạo công tác Đảng, quản lý Nhà nước theo đúng chính sách và thẩm quyền được giao.
Nhiệm vụ Nhiệm vụ của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã người dân tộc thiểu số được quy định tại Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV như sau: * Bí thư, Phó Bí thư Đảng Ủy, Chi ủy, Thường trực đảng ủy xã, phường, thị trấn: Chức trách: Là cán bộ chuyên trách công tác đảng ở Đảng bộ, chi bộ (nơi chưa thành lập Đảng bộ) xã, phường, thị trấn, có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ, cùng tập thể đảng ủy, chi ủy lãnh đạo toàn diện đối với hệ thống chính trị ở cơ sở trong việc thực hiện chủ 10 n trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước trên địa bàn xã, phường, thị trấn. Nhiệm vụ của Bí thư: Nắm vững Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết và chỉ thị của cấp trên, chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cấp mình; nắm vững nhiệm vụ trọng tâm, giải quyết có hiệu quả công việc đột xuất; nắm chắc, nắm sát tình hình đảng bộ, tổ chức đảng trực thuộc và Nhân dân trên địa bàn; chịu trách nhiệm chủ yếu về các mặt công tác của đảng bộ. Điều hành các cuộc họp Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, chỉ đạo và tổ chức chỉ đạo thực hiện các nghị quyết đề ra. Trong lãnh đạo thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chỉ đạo các hoạt động, giữ vai trò trung tâm đoàn kết, lãnh đạo toàn diện đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị cấp xã.
Lãnh đạo, kiểm tra việc tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của của đảng bộ cấp trên, của Ban Thường vụ Đảng ủy, Ban Chấp hành đảng bộ. Nhiệm vụ của Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy: Giúp Bí thư đảng ủy chuẩn bị nội dung các cuộc họp và dự thảo nghị quyết của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ về các mặt công tác của đảng bộ. Tổ chức thông tin tình hình và chủ trương của Ban chấp hành, Ban thường vụ cho các Ủy viên Ban chấp hành và tổ chức đảng trực thuộc. Tổ chức kiểm tra việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cấp trên, của Ban Chấp hành và Ban Thường vụ đảng ủy.
Tiêu chuẩn cụ thể: Tuổi đời: Không được hơn 45 tuổi khi tham gia giữ chức vụ lần đầu. Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông.