Chương 1 Bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn - Bản chất, biểu hiện và nguyên nhân 1. Bản chất và biểu hiện của bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn 1. Bản chất của bệnh kinh nghiệm Nhận thức là quá trình phỏn ỏnh hiện thực khỏch quan bởi con người, là quá trình tạo lập tri thức trong bộ óc người về hiện th ực khách quan. Nhờ có nhận thức, con người mới có hiểu biết về thế giới.
Tri thức là kết quả của quá trình nhận thức thế giới bởi con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Nhận thức không phải là một hành động t ức th ời, gi ản đơn, máy móc, thụ động mà là một quá trình biện ch ứng. Quá trình nh ận thức diễn ra theo con đường từ trực quan sinh động đến tư duy tr ừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó cũng là quá trình nhận thức đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn.Lênin trong Bỳt ký triết học đó chỉ ra biện chứng của quá trình nhận thức như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện ch ứng c ủa s ự nhận thức chõn lý, của sự nhận thức thực tại khách quan” [29, tr.
Như vậy, trực quan sinh động và tư duy trừu tượng là hai giai đo ạn nh ận thức có đặc tính khác nhau, nhưng bổ sung cho nhau trong quá trình nhận thức. Kết quả quá trình đó đem lại cho con người những tri thức ở những trình độ khác nhau. Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai trình đ ộ khác nhau của nhận thức nhưng thống nhất với nhau và bổ sung cho nhau, thâm nhập lẫn nhau. Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận không đồng nhất với nhận thức cảm tính và nhận thức lý tớnh, tuy chỳng cú quan 8 hệ với nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, bởi trong nhận thức kinh nghiệm đó bao hàm yếu tố lý tớnh.
Do đó, có thể coi kinh nghiệm và lý luận là những bậc thang của lý tớnh, nhưng khác nhau về trình độ, tính ch ất phản ánh hiện thực. Nhận thức kinh nghiệm chủ yếu thu nhận đ ược t ừ quan sát và thực nghiệm, trên cơ sở đó tạo thành tri thức kinh nghiệm. Tri thức kinh nghiệm nẩy sinh một cách trực tiếp từ thực tiễn – t ừ lao đ ộng sản xuất, từ hoạt động cải tạo chính trị - xã hội, hoặc từ thực nghiệm khoa học. Tri thức kinh nghiệm đóng vai trũ quan trọng đối v ới nh ận th ức và hoạt động thực tiễn của con người.
Nếu không có tri thức kinh nghiệm thỡ sẽ không cú tri thức lý luận. Tri thức kinh nghiệm còn là c ơ s ở đ ể con người khái quát nhằm bổ sung, phát triển lý luận. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm còn hạn chế, bởi nó mới đem lại sự hiểu biết về các mặt riêng rẽ, các mối liên hệ bên ngoài của sự vật.Ăngghen đó khẳng định: “Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao gi ờ có th ể ch ứng minh được đầy đủ tính tất yếu” [40, tr. Ở trình độ tri thức thức kinh nghiệm, con người chưa thể nắm được cái tất yếu sâu sắc nhất, mối quan hệ bản chất của các sự vật, hiện tượng.
Nếu chỉ đơn thuần sử dụng tri thức kinh nghiệm để xử lý công việc thỡ nhất định sẽ kém hi ệu qu ả. Tri thức kinh nghiệm chỉ có thể giải quyết được những công việc cụ thể trong những trường hợp cụ thể nhất định và nói chung kết quả thường hạn chế. Trong Từ điển Tiếng Việt, khái niệm kinh nghiệm được dùng để chỉ: "những điều hiểu biết do trông thấy, nghe thấy, do từng trải, tiếp xúc v ới cuộc sống mà có" [58, tr. Nghĩa là, kinh nghiệm là m ột d ạng tri th ức phản ánh hiện thực khách quan, cho nên xét v ề m ặt nh ận th ức lu ận, kinh nghiệm là tính thứ hai, thế giới khách quan là tính thứ nh ất.
N ội dung mà kinh nghiệm phản ánh thuộc thế giới khách quan. Nội dung của kinh nghiệm có tính lịch sử cụ thể. Kinh nghiệm phản ỏnh trình độ hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người ở m ột giai 9 đoạn lịch sử nhất định. Thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm đó cú.
Thế hệ sau kế thừa những kinh nghiệm của thế hệ trước để lại, làm giàu thờm kho tàng kinh nghiệm quý báu đó b ằng nh ững kinh nghiệm mới. Tuy nhiên, kho tàng tri thức của nhân loại không ch ỉ cú những tri thức kinh nghiệm mà còn cú tri thức lý luận. Kinh nghiệm xét về bản chất có những đặc trưng cơ bản sau: - Kinh nghiệm là một dạng tri thức được thu nhận và tích luỹ trực tiếp thông qua hoạt động thực tiễn của con người nên còn mang tính trực quan cảm tính. Trong quá trình con người tác động đến thế giới hiện thực con người trực tiếp thu nhận, tích luỹ và hình thành những tri thức nhất định về thế giới.
Những tri thức này được củng cố cùng với kỹ năng ho ạt đ ộng của con người. Kinh nghiệm là một dạng tri thức phản ánh hiện thực khách quan; là một dạng tri thức có tính chất trực quan c ảm tính, nh ưng không thể đồng nhất với cảm giác, tri giác, biểu tượng. Mặt khác, việc tách nhận thức thành hai hình thức cảm tớnh và lý tớnh chỉ mang ý nghĩa tương đối về mặt nhận thức luận. Thực tế cho thấy, không có một kết quả của một quá trình nhận thức nào lại không phải là sản phẩm của sự thống nhất biện chứng giữa nhận thức cảm tớnh và nhận thức lý tớnh.
Kinh nghiệm phản ánh chủ yếu dựa vào quan sát trực quan, vào nh ững ho ạt động có tính chất thực nghiệm, vào quá trình trao đổi thông tin mang tính trực tiếp giữa con người với thế giới, giữa con người v ới con ng ười. Kinh nghiệm cũng đạt tới trình độ khái quát, trừu tượng hoá nh ất đ ịnh, tuy nhiờn so với lý luận thỡ còn dừng ở trình độ thấp. Do đó, chỉ có thể xét tính chất cảm tính của kinh nghiệm với tư cách là một dạng tri thức chưa hoàn chỉnh, chưa đầy đủ, mới phản ánh được mối liên hệ bên ngoài nh ất đ ịnh của sự vật, hiện tượng. Kinh nghiệm có ưu thế ở chỗ, nó phản ánh sinh động, trực tiếp sự vật, hiện tượng.
Tuy nhiên, với tính chất phản ánh đó 10 tác dụng của kinh nghiệm là có hạn, giá trị của khái quát kinh nghiệm chưa sâu sắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Kinh nghiệm là t ốt, là quí báu song kinh nghiệm có hạn chế của nó, chẳng qua chỉ là từng bộ ph ận, ch ỉ thiên lệch về một phía mà thôi. Nếu đó cú kinh nghiệm mà lại biết thờm lý luận thỡ công việc tốt hơn nhiều. Dựa vào kinh nghiệm, con người có thể nhận thức được cái riêng từ những đối tượng trực tiếp cảm tính.
Trong cái riêng, kinh nghiệm phản ánh một cách sinh động, phong phú hơn. Tuy vậy, kinh nghiệm không thể phản ánh được toàn bộ cái riêng trong s ự t ồn t ại tất yếu của nó. Kinh nghiệm luôn mang tính riêng lẻ của m ột cá th ể, m ột nhóm, một giai cấp, một dân tộc, một khu vực, m ột hoàn c ảnh, m ột th ời gian nhất định. Trong hoạt động thực tiễn đòi hỏi việc tiếp thu, v ận d ụng kinh nghiệm phải biết chọn lọc, kế thừa, sỏng tạo và ph ải cú quan đi ểm lịch sử - cụ thể.
Kinh nghiệm không thể nhận thức được cái chung trong bản thân một sự vật riêng lẻ nào đó. Trong quá trình ph ản ỏnh c ỏi chung kinh nghiệm tỏ rừ kộm sõu sắc. Cỏi chung chỉ được biểu hi ện trong kinh nghiệm với tính cách là sự phản ánh lặp đi, lặp lại trên nh ững l ớp đ ối tượng sự vật, hiện tượng không đồng nhất. - Kinh nghiệm là điểm xuất phát, là cơ sở ban đầu quan trọng của quá trình nhận thức.
Kinh nghiệm càng phong phú bao nhiờu thỡ càng tạo ra nhiều d ữ liệu, tài liệu cho khỏi quỏt lý luận bấy nhiêu. Không có kinh nghi ệm th ỡ khoa học cũng khó mà phát triển được. Thực tế lịch sử đó ch ứng minh điều này. Tiến bộ khoa học ngày nay cũng không thể có được nếu thiếu các ngành khoa học có tính chất thực nghiệm.
Bởi kinh nghi ệm không ch ỉ dừng lại ở kinh nghiệm thông thường, tức là kinh nghi ệm thu nh ận đ ược từ những quan sát hàng ngày trong cuộc sống và trong lao động sản xu ất mà còn những kinh nghiệm khoa học thu nhận được t ừ những th ực nghiệm khoa học. Những kinh nghiệm này là công cụ sắc bén thúc đ ẩy 11 nhận thức lên một trình độ cao hơn trong quá trình ti ếp c ận chõn lý. Ăng ghen viết: “Trong kinh nghiệm, cái quan trọng chính là trí tu ệ mà người ta dùng để tiếp xúc với hiện thực. Một trí tuệ vĩ đại thực hiện được những kinh nghiệm vĩ đại, và thấy được cái gỡ là quan trọng trong sự vận động muôn vẻ của các hiện tượng” [40, tr.
Trong quá trình nhận thức và phát triển của tư duy nhân loại, kinh nghiệm có vai trũ to lớn. Nếu thiếu kinh nghiệm thỡ không cú lý luận. Lý luận là hệ thống tri th ức đ ược khái quát từ tri thức kinh nghiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đó chỉ rừ: Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử.
Lý luận được hình thành từ kinh nghiệm, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nhưng lý lu ận không hình thành một cỏch tự phát từ kinh nghiệm và không phải m ọi lý lu ận đều xuất phát trực tiếp từ kinh nghiệm. Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm. Tuy nhiên, điều đó vẫn không làm mất đi mối liên hệ giữa lý luận với kinh nghiệm. Kinh nghiệm xét đến cùng vẫn là cơ sở để chúng ta bổ sung, phát triển lý lu ận đó cú và tổng kết, khỏi quỏt thành lý luận mới.
Lờnin chỉ rừ: “Muốn hiểu biết thỡ phải bắt đầu tìm hiểu, nghiờn cứu từ kinh nghiệm, từ kinh nghiệm mà đi đến cái chung.