CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TẠO ĐỘNG LUC LAM VIỆC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Cho đến nay, tạo động lực làm việc là một trong những chủ dé thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế. Đã có nhiều tác giả, dé tài và công trình nghiên cứu liên quan đến tạo động lực làm việc tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp dưới các góc độ tiếp cận khác nhau. Các công trình nghiên cứu ngoài nước Tác giả Campel và Pritchard (1976) trong công trình nghiên cứu “Motivation theory in industrial and organizational psychology” (Lý thuyết tạo động lực trong công nghiệp và tâm lý học tô chức) đã chỉ ra rằng động lực làm việc chính là một nhu cầu, mong muốn hay khao khát mà nó diễn ra bên trong mỗi cá nhân khiến cho họ biéu hiện ra thành hành vi.
Động lực làm việc bao gồm mối quan hệ đa dạng phụ thuộc và không phụ thuộc vào nhau bao gồm phương hướng, kỹ năng, sự hiểu biết về những nhiệm vụ, các hoạt động mà các cá nhân phải thực hiện trong môi trường làm việc, trạng thái tâm lý cơ bản cũng đưa đến cách ứng xử, hành vi của các cá nhân. Như vậy, dé tạo động lực cho NLD cần chú ý đến cả yêu tô tâm lý của NLD. Trong công trình “Work motivation in Organizational Behavior” (Động lực làm việc trong Hành vi tô chức), Pinder (1998) cho rằng động lực làm việc là một tập hợp của các yếu tố bên ngoài và bên trong dẫn tới các hành vi liên quan đến việc thiết lập, định hướng hình thức, thời gian và cường độ của hành động. Các yếu tố bên ngoài như tính chat công việc, hệ thống khen thưởng của tô chức và các yếu tố bam sinh của một cá nhân như động cơ và nhu cầu của một người đều có ảnh hưởng đến các hành vi liên quan đến làm việc.
Tác giả Carr (2005) trong công trình “Investigating the motivation of retail managers at retail organition in the Western Cape” coi động lực làm việc như là một sự thúc đây từ bên trong. Tác giả cho răng dựa trên nên tảng là các nhu câu cơ bản một cách có ý thức và vô thức của một cá nhân giúp cá nhân làm việc dé đạt được mục tiêu. Tác giả Business Edge (2006) trong công trình “Tạo động lực làm việc — Phải chăng chỉ có thể bằng tiền?” cho thấy có rất nhiều nhà lãnh đạo, quản lý đã phải tự đặt câu hỏi tại sao khi tăng lương mà nhân sự van rời bỏ tổ chức, tại sao NLD chỉ làm việc đến hết giờ mà không hết việc. Từ đó, tác giả chỉ ra rằng có thé tạo động lực cho NLD thông qua nhiều phương thức khác nhau ngoài công cụ tài chính là tiền.
Tiền có thể là công cụ tạo động lực với đối tượng này, nhưng lại không phải là nhân tố kích thích người khác làm việc. Chính vi thé, nhà quản lý cần xác định mục tiêu làm việc của NLĐ để tìm công cụ kích thích phù hợp. Thông qua việc nghiên cứu phân tích sự khác biệt trong động lực làm việc giữa những tô chức ở khu vực công và khu vực tư nhân từ cuộc điều tra gồm 3.314 nhân viên ở khu vực tư và 409 nhân viên làm việc ở khu vực công tại vương quốc Bỉ, hai tác giả Buelens và Van den Broeck (2007) đã chỉ ra sự khác biệt về động lực làm việc cua NLD ở khu vực công sở với khu vực tư nhân. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt giới và độ tuổi của NLD về tạo động lực.
Phụ nữ thường được thúc đây làm việc bởi tiền lương và các mối quan hệ tốt đẹp trong tô chức. NLD lớn tuôi ít có xu hướng rời bỏ tô chức. Họ muốn được làm việc trong một môi trường có nhiều sự cảm thông, hỗ trợ và ít được thúc day bởi yếu tố tiền lương. Tác giả Denibutun (2012) đã xây dựng khung lý thuyết về động lực làm việc trong nghiên cứu của mình.
Tác giả đã khám phá sự khác nhau giữa các lý thuyết về động lực làm việc và xem xét động lực như một quá trình tâm lý cơ bản của con người. Các lý thuyết về động lực giúp giải thích hành vi của một người nhất định tại một thời điểm nhất định. Trong công trình “Factors Influencing Motivation of Garments Worke” (Các nhân tố ảnh hưởng tới động lực làm việc trong ngành may mặc), tác giả Islam và cộng sự (2015) đã chỉ ra 05 nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công nhân ngành may đang làm việc tại các công ty may Bangladesh là: Tiền lương và các khoản thanh toán; điều kiện làm việc; điều kiện môi trường; sự an toan và khen thưởng. Tác giả Taguchi (2015) trong công trình “Factors forming work motivation 1n Japan” (Các yếu tố tạo nên động lực làm việc ở Nhật Bản) cho thấy, các yếu tố hình thành động lực làm việc tại Nhật Bản bao gồm: Đánh giá nhân viên; mục tiêu của công ty; cơ hội thăng tiến; thu nhập; mối quan hệ trong tổ chức; đặc điểm công việc; điều kiện nơi làm việc; cơ cấu tổ chức, cân bằng cuộc sống va công viéc.
Cac công trình nghién cứu trong nước Trong công trình nghiên cứu “Giữ chân nhân viên bằng cách nào”, của Vuong Minh Kiệt (2005) va “Chiến lược cạnh tranh thời dai mới” của Ta Ngọc Ái (2009) đã nêu ra một số chiến lược giúp doanh nghiệp giữ chân nhân viên gắn bó lâu dài với doanh nghiệp đồng thời coi việc tạo động lực lao động cho NLĐ để họ gắn bó với doanh nghiệp và hăng say làm việc đạt hiệu quả cao là một trong những chiến lược giúp doanh nghiệp có thể đối phó với đối thủ cạnh tranh trong môi trường kinh doanh ngày càng khốc liệt. Trong luận án tiến sĩ “Tạo động lực cho lao động quản lý trong doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội đến năm 2020”, tác giả Vũ Thị Uyên (2008) đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản về vai trò lao động quản lý trong doanh nghiệp và đề xuất những giải pháp nhằm tạo động lực cho lao động quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước. Tác giả Trần Kim Dung và Nguyễn Ngọc Lan Vy (2011), cho rằng, cơ hội đào tạo thỏa mãn nhu cầu phát triển cho nhân viên. Khi được trang bị những kỹ năng chuyên môn cần thiết sẽ kích thích nhân viên thực hiện công việc tốt hơn, đạt nhiều thành tích hơn, muốn được trao những nhiệm vụ có tính thách thức cao hơn có nhiều cơ hội thăng tiến hơn Tác giả Trương Minh Đức (2011) trong nghiên cứu “Ung dụng mô hình định lượng đánh giá mức độ tạo động lực làm việc cho NLD Công ty trách nhiệm hữu hạn ERICSSON tại Việt Nam” đã chỉ ra các nhà quản lý nên quan tâm trước hết đến mức tiền lương cơ bản, tổng mức thu nhập của NLĐ.
Sự quan tâm của lãnh đạo đối với đời sống NLD, điều kiện làm việc và quan hệ đồng nghiệp dé tạo động lực làm việc cho NLĐ. Các nhà quản lý cũng cần xây dựng quy trình, quy chế làm việc rõ ràng dé giúp NLD tránh được những sai lầm đáng tiếc. Về điều kiện làm việc, các nhà quản lý nên quan tâm đến cơ sở vật chất, thiết bị nơi làm việc, đây cũng là những yếu tố giúp NLĐ có hứng thú làm việc. Bên cạnh đó, dé tạo động lực cho NLD, các nhà quản lý cũng cần quan tâm đến áp lực công việc của người NLD bởi lẽ nếu áp lực công việc quá cao hoặc công việc nhàm chán sẽ gây chán nản trong công viéc của NLD, không tạo được động lực làm việc cho NLD.
Tác giả Nguyễn Thi Phương Dung (2012) với công trình “Xây dựng thang đo động viên nhân viên khối văn phòng ở thành phố Cần Tho” đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên trực tiếp sản xuất của công ty Lilama là: Lương và chế độ phúc lợi; văn hóa doanh nghiệp; mối quan hệ với đồng nghiệp; điều kiện làm việc; mối quan hệ với lãnh dao; sự tự chủ trong công việc; cơ hội đào tạo và phát triển. Trong bài viết “Những nhân tổ tác động đến động lực làm việc của người lao động trong khách sạn” của tác giả Lưu Thị Bích Ngọc và cộng sự (2013) chỉ ra rằng NLD có đồng thời động lực bên trong va động lực bên ngoài. Với ý nghĩa đó, các nhà quản lý nên sử dụng một hỗn hợp các phương pháp - bao gồm cả tiền thưởng, khen ngợi công nhân hiệu quả, thúc đây con người, tạo sự hài lòng công việc từ đó khuyến khích NLD làm việc hiệu quả hơn. Trong nghiên cứu “tạo động lực lao động tại công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh địa ốc Hòa Bình”, tác giả Ngô Thị Tam (2015) đã đưa ra một số yếu tố ảnh hưởng đến tạo động lực trong công ty như: Cơ cấu tô chức công ty, đặc điểm lao động trong công ty; và văn hóa của công ty.
Nghiên cứu cũng đưa ra các chỉ tiêu đánh giá tạo động lực lao động tại công ty CP xây dựng và kinh doanh địa ốc Hòa Bình như: doanh thu; lao động bỏ việc; lao động bình quân năm; năng suất lao động bình quân và tỷ lệ bỏ việc. Tác giả Nguyễn Văn Tỉnh (2017) trong công trình “tạo động lực làm việc cho người lao động tại công ty cổ phan vật tư nông nghiệp và xây dựng Hải Phòng” cũng chỉ ra quy trình tạo động lực làm việc cho NLĐ bao gồm: xác định nhu cầu của NLĐ; phân loại nhu cầu của người lao động; thiết kế biện pháo tạo động lực làm việc cho NLĐ; triển khai tạo động lực làm việc cho người lao động và đánh giá tạo động lực làm việc cho NLD. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chi ra các yếu tố ảnh hưởng tạo động lực làm việc cho NLD trong doanh nghiệp như: quy định của pháp luật Nhà nước; Đặc điểm của ngành nghề kinh doanh; Quan điểm của nhà quản trị doanh nghiệp; Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp; và Đặc điểm của NLĐ trong doanh nghiệp. Trong công trình luận án Tiến sĩ “Tao động lực lao động tại Công ty Cổ phần Dệt may Hòa Thọ”, tác giả Nguyễn Xuân Minh Trường (2018) đã nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác tạo động lực tại Công ty Cổ phần Dệt may Hòa Thọ.
Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra giải pháp hoàn thiện tạo động lực lao động dé đội ngũ lao động đáp ứng yêu cầu công việc hiện tại và mục tiêu phát triển lâu dài của công ty.