Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới kinh tế và thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010, cơ chế quản lý tài chính công tại Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Ngành du lịch được Đảng và Nhà nước xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp khoảng 5% đến 7% GDP cả nước trong những năm đầu thế kỷ XXI. Tuy nhiên, các đơn vị sự nghiệp du lịch công lập thời kỳ này vẫn đối mặt với cơ chế quản lý tài chính mang nặng tính bao cấp, thụ động trông chờ nguồn cấp phát từ ngân sách nhà nước, dẫn tới việc khai thác các nguồn lực dịch vụ chưa triệt để và hiệu quả vận hành bộ máy chưa cao.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh với đề tài nghiên cứu về tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp du lịch công lập được thực hiện nhằm giải quyết bài toán cấp thiết trên. Mục tiêu nghiên cứu bao quát của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính; khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng thực hiện tại các đơn vị sự nghiệp du lịch có thu trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2004 - 2006; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp thực tiễn nhằm gia tăng nguồn lực tài chính ngoài ngân sách và nâng cao hiệu quả quản trị nội bộ.

Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung vào các đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Tổng cục Du lịch đóng trên địa bàn Hà Nội, lấy Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội làm trường hợp điển hình. Kết quả nghiên cứu góp phần thúc đẩy các đơn vị đạt mục tiêu tăng trưởng nguồn thu sự nghiệp từ 15% đến 25% mỗi năm, đồng thời tối ưu hóa việc phân bổ chi thường xuyên trong khung thời gian ổn định kinh phí 3 năm theo định hướng của Chính phủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của lý thuyết kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và học thuyết phân công lao động xã hội của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về 5 hệ thống vận động xã hội, trong đó hoạt động sự nghiệp thuộc phạm trù kiến trúc thượng tầng có khả năng tác động điều chỉnh hạ tầng cơ sở. Cùng với đó, lý thuyết tài chính công hiện đại về hàng hóa công cộng và dịch vụ công ích được áp dụng để giải thích tính tất yếu của việc chuyển giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp du lịch.

Khung phân tích tập trung vào 4 khái niệm cốt lõi: hoạt động sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ chế tự chủ tài chính và hệ thống 4 quỹ chuyên dùng (Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập). Trọng tâm quy chuẩn pháp lý là Nghị định số 10/2002/NĐ-CP và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính. Luận văn chuẩn hóa công thức đo lường mức độ tự bảo đảm chi thường xuyên: tỷ lệ phần trăm giữa tổng nguồn thu sự nghiệp chia cho tổng chi hoạt động sự nghiệp thường xuyên, làm căn cứ chia đơn vị thành 3 nhóm với mức tự chủ từ dưới 100% đến hoàn toàn 100%.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp từ hệ thống báo cáo quyết toán tài chính, dự toán ngân sách nhà nước, các biểu mẫu dự toán chi thường xuyên và thống kê thu nhập cán bộ trong giai đoạn 2004 - 2006 do Tổng cục Du lịch và Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội ban hành. Dữ liệu sơ cấp được tổng hợp qua khảo sát thực tế và tham vấn ý kiến chuyên gia quản lý tài chính.

Phương pháp chọn mẫu định đích (purposive sampling) được áp dụng với cỡ mẫu bao gồm 5 đơn vị sự nghiệp du lịch có thu tiêu biểu trên địa bàn Hà Nội, đảm bảo tính đại diện cho các khối đào tạo nghề, nghiên cứu xúc tiến và dịch vụ du lịch chuyên ngành.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh đối chiếu số liệu tuyệt đối - tương đối và phương pháp duy vật biện chứng là nhằm phản ánh khách quan, minh bạch sự biến động của dòng tiền, đánh giá tính chuẩn xác trong việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ. Toàn bộ quy trình thu thập, xử lý dữ liệu và đánh giá thực tiễn được triển khai đồng bộ trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến đầu năm 2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đã tạo bước chuyển dịch rõ rệt trong cơ cấu nguồn thu của các đơn vị sự nghiệp du lịch có thu. Điển hình tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp và liên kết đào tạo đã tăng trưởng nhanh, chiếm tỷ trọng trên 50% trong tổng nguồn tài chính của đơn vị, từng bước giảm tỷ trọng phụ thuộc trực tiếp vào ngân sách nhà nước cấp vốn thường xuyên.

Thứ hai, công tác quản trị chi thường xuyên được kiểm soát chặt chẽ thông qua việc ban hành quy chế chi tiêu nội bộ. Việc thực hiện định mức chi khoán văn phòng phẩm, điện nước và công tác phí giúp các đơn vị tiết kiệm được từ 10% đến 15% tổng chi hành chính hàng năm so với phương thức phân bổ dự toán theo khoản mục truyền thống.

Thứ ba, cơ chế phân phối chênh lệch thu lớn hơn chi đã tạo động lực gia tăng thu nhập cho người lao động. Đơn vị trích lập đầy đủ tối thiểu 25% chênh lệch thu chi vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp để tái đầu tư cơ sở vật chất, đồng thời tạo nguồn chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ giáo viên, nâng mức thu nhập bình quân tăng từ 1,3 đến 1,8 lần so với hệ số lương cơ bản quy định bởi nhà nước trong giai đoạn 2004 - 2006.

Thứ tư, quyền tự chủ đã thúc đẩy tinh thần chủ động mở rộng liên kết, mở thêm các lớp bồi dưỡng ngắn hạn, dịch vụ tư vấn lữ hành và thực hành khách sạn, giúp tăng quy mô phục vụ thêm hơn 20% học viên mỗi niên khóa.

Thảo luận kết quả

Sự chuyển biến tích cực trên bắt nguồn từ việc phân cấp mạnh mẽ của Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, chuyển cơ chế quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, trao quyền cho thủ trưởng đơn vị quyết định việc sử dụng biên chế và tài sản. Bức tranh tài chính này được phản ánh sinh động qua Sơ đồ quản lý tài chính ngành dọc 4 cấp và hệ thống bảng biểu thống kê chi tiết, nổi bật là Bảng tổng hợp cơ cấu chi thường xuyên và Bảng phân tích biến động thu nhập bình quân người lao động qua 3 năm.

So sánh với các nghiên cứu cùng thời kỳ trong lĩnh vực giáo dục đại học của các chuyên gia tài chính như Ngô Thế Chi hay Phan Thị Cúc, nghiên cứu này chỉ ra rằng các đơn vị sự nghiệp ngành du lịch có biên độ khai thác nguồn thu dịch vụ linh hoạt hơn nhờ nhu cầu thị trường lao động du lịch tăng cao khoảng 12% mỗi năm. Tuy nhiên, luận văn cũng thẳng thắn chỉ rõ điểm nghẽn: tính dự báo của dự toán thu chi còn hạn chế, chênh lệch thu chi ở một số bộ phận dịch vụ chưa ổn định và việc trích lập quỹ khen thưởng, phúc lợi đôi khi chạm trần mức tối đa 3 tháng lương thực hiện theo luật định.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện và chuẩn hóa Quy chế chi tiêu nội bộ tại từng đơn vị sự nghiệp du lịch. Thủ trưởng đơn vị chủ trì phối hợp với tổ chức Công đoàn rà soát toàn bộ các định mức kinh tế - kỹ thuật, thiết lập hệ thống định mức khoán chi tiết cho từng khoa, phòng, đặt mục tiêu tiết kiệm tối thiểu 12% chi phí quản trị văn phòng trong năm tài chính 2009.

Thứ hai, đa dạng hóa các nguồn thu sự nghiệp thông qua đẩy mạnh xã hội hóa và liên kết doanh nghiệp. Phòng Kế hoạch Tài chính và các đơn vị chuyên môn cần xây dựng đề án mở rộng đào tạo theo đơn đặt hàng của các tập đoàn khách sạn - lữ hành lớn, huy động nguồn vốn đóng góp hợp pháp từ viên chức để nâng cấp trang thiết bị thực hành, hướng tới mục tiêu tăng trưởng doanh thu dịch vụ đạt từ 20% đến 25% trong lộ trình 2 năm tới.

Thứ ba, thực hiện nghiêm ngặt và minh bạch quy trình trích lập 4 quỹ tài chính chuyên dùng. Ban Giám hiệu các trường và lãnh đạo các trung tâm cần đảm bảo tỷ lệ trích lập tối thiểu 25% cho Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, đồng thời quản lý chặt chẽ Quỹ dự phòng ổn định thu nhập nhằm bảo đảm nguồn chi trả lương tăng thêm đều đặn cho người lao động ngay cả khi nguồn thu biến động.

Thứ tư, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính - kế toán. Cơ quan chủ quản là Tổng cục Du lịch cần phối hợp với Bộ Tài chính tổ chức định kỳ 2 đến 3 khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm về chế độ kế toán hành chính sự nghiệp mới và kiểm toán nội bộ, hoàn thành phổ cập nghiệp vụ trước quý 4 năm 2009.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các nhà lãnh đạo, thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp công lập ngành du lịch và giáo dục nghề nghiệp. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng luận văn như tài liệu tham chiếu trực tiếp để xây dựng đề án tự chủ, xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ và thiết lập cơ chế phân phối thu nhập tăng thêm theo hiệu quả công việc.

Nhóm thứ hai là các cán bộ phụ trách công tác tài chính, kế toán viên và chuyên viên kiểm soát nội bộ tại các đơn vị hành chính sự nghiệp. Luận văn cung cấp phương pháp luận thực hành về cách thức tính toán tỷ lệ tự đảm bảo kinh phí, thủ tục mở tài khoản giao dịch tại Kho bạc Nhà nước và ngân hàng thương mại, cũng như quy trình hạch toán trích khấu hao tài sản cố định.

Nhóm thứ ba là các chuyên viên hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước như Tổng cục Du lịch, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Bộ Tài chính. Công trình mang lại dữ liệu thực chứng giá trị về những bất cập khi chuyển tiếp chính sách, làm cơ sở hoàn thiện các thông tư hướng dẫn phân cấp tài chính công.

Nhóm thứ tư là học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản lý kinh tế và Tài chính công. Luận văn là nguồn tài liệu học thuật giá trị, cung cấp khung nghiên cứu tình huống điển hình về mô hình tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Một là, đơn vị sự nghiệp du lịch công lập được phân loại tự chủ tài chính dựa trên tiêu chí nào? Theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, đơn vị được phân thành 3 loại: đơn vị tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (mức tự bảo đảm từ 100% trở lên), đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên (dưới 100%), và đơn vị do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí do nguồn thu sự nghiệp thấp.

Hai là, công thức tính mức độ tự bảo đảm chi hoạt động thường xuyên của đơn vị được xác định ra sao? Mức tự bảo đảm chi phí được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa tổng số nguồn thu sự nghiệp chia cho tổng chi hoạt động sự nghiệp thường xuyên của đơn vị trong năm đầu thời kỳ ổn định dự toán, căn cứ trên số liệu thực hiện của năm liền kề đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Ba là, chênh lệch thu lớn hơn chi thường xuyên trong năm của đơn vị được phân phối như thế nào? Sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế, đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí phải trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, phần còn lại dùng để chi trả thu nhập tăng thêm và trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi (không quá 3 tháng lương bình quân) cùng Quỹ dự phòng ổn định thu nhập.

Bốn là, cơ chế tự chủ tài chính mang lại quyền hạn cụ thể nào cho thủ trưởng đơn vị? Thủ trưởng đơn vị được toàn quyền quyết định phương án chi tiêu theo quy chế nội bộ, quyết định mức trả thu nhập tăng thêm gắn với kết quả công việc, chủ động huy động vốn liên doanh liên kết và thực hiện vay vốn tín dụng để phát triển dịch vụ sự nghiệp.

Năm là, tại sao ngân sách nhà nước lại áp dụng chu kỳ ổn định kinh phí hoạt động 3 năm cho các đơn vị? Cơ chế giao dự toán ổn định 3 năm giúp đơn vị chủ động xây dựng kế hoạch tài chính trung hạn, loại bỏ tâm lý bị động xin cấp ngân sách từng năm và khuyến khích đơn vị triệt để thực hành tiết kiệm để gia tăng tích lũy.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp du lịch công lập trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước.
  • Phân tích sâu sắc bức tranh thực trạng tài chính giai đoạn 2004 - 2006 tại các đơn vị sự nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội, chỉ rõ sự chuyển dịch tích cực của nguồn thu dịch vụ đạt trên 50%.
  • Đánh giá đúng mức vai trò của quy chế chi tiêu nội bộ và việc trích lập 4 quỹ chuyên dùng trong việc nâng cao thu nhập người lao động tăng từ 1,3 đến 1,8 lần.
  • Chỉ ra các điểm hạn chế về công tác lập dự toán, quản trị tài sản và trình độ chuyên môn của đội ngũ kế toán viên cơ sở.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao, có lộ trình triển khai chi tiết cho giai đoạn 2008 - 2010.

Đóng góp lớn nhất của công trình là xây dựng thành công khung phân tích thực tiễn và mô hình quản trị tài chính thích ứng cho các đơn vị sự nghiệp du lịch có thu. Để hiện thực hóa các giải pháp, lộ trình khuyến nghị cần được triển khai qua 3 giai đoạn: hoàn thiện quy chế nội bộ trong 6 tháng đầu, mở rộng hoạt động liên kết dịch vụ trong 12 tháng tiếp theo và phấn đấu nâng mức tự bảo đảm chi thường xuyên lên 100% trong vòng 36 tháng. Các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm đến đổi mới khu vực công hãy áp dụng ngay các hàm ý quản trị từ luận văn này để nâng cao hiệu quả vận hành tại đơn vị mình.