Luận Văn Tốt Nghiệp: Mở Rộng Thị Trường Tiêu Thụ Sản Phẩm Đá Ốp Lát Của Công Ty Cổ Phần Đồng Tiên

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp tmu mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm đá ốp lát của công ty cổ phần đồng tiên, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Thương Mại

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2014

55
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

0.3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu

0.4. Những kết quả được khẳng định về mặt khoa học, thực tiễn

0.5. Một số vấn đề đặt ra nghiên cứu

0.6. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.7. Phương pháp nghiên cứu

0.7.1. Phương pháp thu thập số liệu

0.7.1.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
0.7.1.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

0.7.2. Phương pháp sử lý số liệu

0.7.3. Phương pháp khác

0.8. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP

1.1. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản về lao động, việc làm

1.2. Khái niệm lao động và người lao động trong nông nghiệp

1.3. Khái niệm về việc làm và giải quyết việc làm

1.4. Khái niệm thất nghiệp và các dạng thất nghiệp

1.5. Một số chính sách về việc làm và lao động trong nông nghiệp

1.6. Đặc điểm việc làm của lao động nông nghiệp

1.7. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của lao động nông nghiệp

1.8. Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp

1.9. Ý nghĩa giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp

1.10. Những nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp

1.11. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp ở một số địa phương

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ

2.1. Thực trạng quá trình sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng của nó tới việc làm cho lao động nông nghiệp trên địa bàn huyện

2.2. Thực trạng của quá trình sản xuất nông nghiệp

2.3. Ảnh hưởng của quá trình sản xuất tới việc làm của lao động nông nghiệp

2.4. Thực trạng về chính sách việc làm cho lao động nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Vì

2.5. Đặc điểm của lao động nông nghiệp trên địa bàn huyện

2.6. Chính sách về việc làm của lao động nông nghiệp trên địa bàn huyện

2.7. Đánh giá chung về giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong thời gian qua trên địa bàn huyện Ba Vì

2.7.1. Những thành tích đạt được

2.7.2. Những hạn chế về giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trên địa bàn huyện trong thời gian qua

2.7.3. Nguyên nhân của những hạn chế trên

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

3.1. Phương hướng giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp

3.2. Bối cảnh trong nước về lao động và việc làm

3.3. Phương hướng giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp của huyện đến năm 2020

3.4. Một số giải pháp về chính sách giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp của huyện Ba Vì

3.4.1. Đẩy mạnh công tác hướng nghiệp, đào tạo nghề, gắn đào tạo nghề với sử dụng lao động

3.4.2. Giải pháp cho vay vốn giải quyết việc làm

3.4.3. Phát triển sản xuất trong nông thôn để thu hút lao động

3.4.4. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động

3.4.5. Một số giải pháp khác

3.5. Một số kiến nghị

3.5.1. Đối với cơ quan chức năng

3.5.2. Đối với cơ sở kinh tế

3.5.3. Đối với người lao động

3.6. Những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC TÀI KIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về thị trường đá ốp lát và công ty Đồng Tiến

Thị trường đá ốp lát đang ngày càng phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam. Công ty cổ phần Đồng Tiến là một trong những đơn vị tiên phong trong lĩnh vực này. Với nhiều năm kinh nghiệm, công ty đã khẳng định được vị thế của mình trên thị trường. Sản phẩm đá ốp lát của Đồng Tiến không chỉ đa dạng về mẫu mã mà còn đảm bảo chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

1.1. Đặc điểm nổi bật của sản phẩm đá ốp lát

Sản phẩm đá ốp lát của công ty Đồng Tiến có nhiều đặc điểm nổi bật như độ bền cao, khả năng chống thấm nước tốt và tính thẩm mỹ cao. Những yếu tố này giúp sản phẩm thu hút được sự quan tâm của khách hàng.

1.2. Vai trò của công ty Đồng Tiến trong ngành đá ốp lát

Công ty Đồng Tiến đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp sản phẩm đá ốp lát chất lượng cho thị trường. Công ty không chỉ cung cấp sản phẩm mà còn tham gia vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới.

II. Thách thức trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm đá ốp lát

Mặc dù thị trường đá ốp lát có nhiều tiềm năng, nhưng công ty Đồng Tiến cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Cạnh tranh từ các đối thủ trong ngành và sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng là những vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Cạnh tranh từ các đối thủ trong ngành

Cạnh tranh trong ngành đá ốp lát ngày càng gay gắt với sự xuất hiện của nhiều thương hiệu mới. Điều này đòi hỏi công ty Đồng Tiến phải có chiến lược marketing hiệu quả để giữ vững thị phần.

2.2. Thay đổi trong nhu cầu của khách hàng

Nhu cầu của khách hàng về sản phẩm đá ốp lát đang thay đổi nhanh chóng. Công ty cần nắm bắt xu hướng này để điều chỉnh sản phẩm và dịch vụ cho phù hợp.

III. Chiến lược marketing cho đá ốp lát của công ty Đồng Tiến

Để mở rộng thị trường tiêu thụ, công ty Đồng Tiến cần xây dựng một chiến lược marketing hiệu quả. Việc áp dụng các phương pháp marketing hiện đại sẽ giúp công ty tiếp cận được nhiều khách hàng hơn.

3.1. Sử dụng mạng xã hội trong marketing

Mạng xã hội là một công cụ mạnh mẽ để quảng bá sản phẩm. Công ty Đồng Tiến có thể sử dụng các nền tảng như Facebook, Instagram để giới thiệu sản phẩm và tương tác với khách hàng.

3.2. Tổ chức các sự kiện quảng bá sản phẩm

Tổ chức các sự kiện giới thiệu sản phẩm đá ốp lát sẽ giúp công ty tạo dựng thương hiệu và thu hút sự chú ý của khách hàng. Đây cũng là cơ hội để khách hàng trải nghiệm sản phẩm trực tiếp.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm đá ốp lát không chỉ mang lại lợi ích cho công ty mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành xây dựng. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng các chiến lược marketing hiệu quả đã giúp công ty tăng trưởng doanh thu đáng kể.

4.1. Kết quả từ các chiến lược marketing

Các chiến lược marketing đã giúp công ty tăng cường nhận diện thương hiệu và thu hút khách hàng mới. Doanh thu từ sản phẩm đá ốp lát đã tăng trưởng ổn định trong những năm qua.

4.2. Tác động đến ngành xây dựng

Sự phát triển của công ty Đồng Tiến đã góp phần thúc đẩy ngành xây dựng tại địa phương. Nhu cầu về đá ốp lát tăng cao đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động.

V. Kết luận và tương lai của thị trường đá ốp lát

Thị trường đá ốp lát có nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Công ty Đồng Tiến cần tiếp tục đổi mới và cải tiến sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Việc mở rộng thị trường tiêu thụ sẽ giúp công ty khẳng định vị thế của mình trong ngành.

5.1. Dự báo xu hướng thị trường đá ốp lát

Dự báo rằng nhu cầu về sản phẩm đá ốp lát sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới. Công ty cần chuẩn bị sẵn sàng để đáp ứng nhu cầu này.

5.2. Định hướng phát triển của công ty Đồng Tiến

Công ty Đồng Tiến sẽ tiếp tục đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, đồng thời mở rộng kênh phân phối để tiếp cận nhiều khách hàng hơn.

19/06/2025
Luận văn tốt nghiệp tmu mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm đá ốp lát của công ty cổ phần đồng tiên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP 1. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản về lao động, việc làm 1. Khái niệm lao động và người lao động trong nông nghiệp - Lao động Khái niệm "lao động" tùy theo góc độ nghiên cứu mà các nhà khoa học đưa ra các quan niệm về "lao động" tương ứng. Tuy nhiên, các quan điểm đều tập trung chủ yếu vào hai khía cạnh: Thứ nhất, coi lao động là hoạt động, là phương thức tồn tại của con người.

Thứ hai, coi lao động chính là bản thân con người, là sự nỗ lực vật chất và tinh thần của con người dưới dạng hoạt động tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần để thỏa mãn nhu cầu của con người. Dựa vào quan niệm lao động là hành động xã hội, người ta phân biệt năm yếu tố cơ bản tạo nên cấu trúc của lao động: đối tượng lao động, mục đích lao động, công cụ lao động, điều kiện lao động và chủ thể lao động. Trong đó chủ thể lao động là con người với tất cả đặc điểm tâm sinh lý, xã hội được hình thành và phát triển trong quá trình xã hội hóa cá nhân. Đối với mỗi dạng hoạt động lao động đòi hỏi ở mỗi cá nhân một tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhất định.

Trên cơ sở đó, khái niệm “lao động” chính là bản thân con người với tất cả sự nỗ lực vật chất, tinh thần của nó, thông qua hoạt động lao động của mình, sử dụng các công cụ lao động, tác động đến đối tượng lao động để đạt được mục đích nhất định. - Lao động nông nghiệp Lao động hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh nông nghiệp được coi là lao động nông nghiệp. Để hiểu rõ hơn bản chất khái niệm "lao động", chúng ta cần nghiên cứu thêm các khái niệm: nguồn nhân lực, nguồn lao động. Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận nguồn lực có thể huy động được để tham gia vào quá trình phát triển đất nước.

Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là bộ phận của dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng, là tổng thể những người trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc có thể huy động được của họ. Về chất lượng, nguồn nhân lực thể hiện ở sức khỏe, 10 Luan van trình độ chuyên môn, ý thức, tác phong, thái độ làm việc của người lao động. Nguồn lao động (hay lực lượng lao động) là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động quy định thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm.

Nguồn lao động cũng được biểu hiện trên hai mặt: số lượng và chất lượng như nguồn nhân lực. Về độ tuổi, mỗi quốc gia có quy định giới hạn tối đa và giới hạn tối thiểu khác nhau: giới hạn tối thiểu ở Braxin: 10 tuổi, úc: 15 tuổi, Mỹ: 16 tuổi,. phần lớn các quốc gia quy định độ tuổi này từ 14 hoặc 15 tuổi. ở Việt Nam quy định 15 tuổi, giới hạn tối đa: các nước Bắc Âu (Đan Mạch, Thụy Sĩ, Na Uy, Phần Lan) quy định độ tuổi này là 74 tuổi.

Còn các nước đang phát triển: Malaixia, Ai Cập, Mêhicô,. quy định độ tuổi này là 65 tuổi. ở Việt Nam độ tuổi này được quy định: 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ. Khái niệm về việc làm và giải quyết việc làm - Việc làm Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật.

Điều 13, chương 2 (việc làm) Bộ luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm". Khái niệm này được vận dụng trong các cuộc điều tra về thực trạng lao động và việc làm hàng năm của Việt Nam và được cụ thể hóa thành ba dạng hoạt động sau: - Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương dưới dạng bằng tiền hoặc bằng hiện vật. - Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân. Bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chính thành viên được quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần.

- Làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ có quyền sử dụng; hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý. Theo khái niệm trên, hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện: + Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình. 11 Luan van + Hai là, hoạt động đó phải đúng luật; không bị pháp luật cấm.

Hai tiêu thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, và là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động chỉ tạo ra thu nhập nhưng vi phạm luật pháp như: trộm cắp, buôn bán hêrôin, mại dâm,. Không thể được công nhận là việc làm. Mặt khác, một hoạt động dù là hợp pháp, có ích nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm - chẳng hạn như công việc nội trợ hàng ngày của phụ nữ cho chính gia đình mình: đi chợ, nấu cơm, giặt giũ quần áo,.

Nhưng nếu người phụ nữ đó cũng thực hiện các công việc nội trợ tương tự cho gia đình người khác thì hoạt động của họ lại được thừa nhận là việc làm vì được trả công. Điểm đáng lưu ý là tùy theo phong tục, tập quán của mỗi dân tộc và pháp luật của các quốc gia mà người ta có một số quy định khác nhau về việc làm: Ví dụ: mại dâm của phụ nữ được coi là việc làm của phụ nữ ở Thái Lan, Philippin vì được pháp luật bảo hộ và quản lý; nhưng ở Việt Nam hoạt động đó được coi là hoạt động phi pháp, vi phạm pháp luật và không được thừa nhận là việc làm. Tuy nhiên, với khái niệm trên, còn có điểm còn bất hợp lý: có hoạt động có ích cho gia đình, cho xã hội, không vi phạm pháp luật, nhưng không tạo ra thu nhập "trực tiếp" cho người tham gia hoạt động - như công việc nội trợ của phụ nữ,. lại không được coi là việc làm.

Nhờ phụ nữ làm công việc nội trợ, đã góp phần làm giảm chi tiêu của gia đình; tạo điều kiện cho chồng, con yên tâm hoạt động sản xuất, kinh doanh đồng thời góp phần tăng thêm lượng vốn đầu tư vào sản xuất, phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho cả gia đình. Như vậy, thực chất của vấn đề ở đây là công việc nội trợ của phụ nữ cũng đã góp phần làm tăng thu nhập của cả gia đình. Với ý nghĩa đó, việc làm là một dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thêm thu nhập cho người thân, gia đình hoặc cộng đồng. Trong nông nghiệp, lao động mang tính thời vụ, do vậy vào thời kỳ căng thẳng, khối lượng công việc nhiều, tăng đột biến.

Tuy nhiên, lúc nhàn rỗi, khối lượng công việc giảm đột ngột, thậm chí có lúc người nông dân không có việc làm. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay dân số ở khu vực nông thôn vẫn tăng nhanh, đất canh tác không tăng thậm chí có xu hướng giảm xuống vì nhiều lý do: đô thị hóa, đất ở,. tăng, mặt khác với khả năng ứng dụng máy móc, tiến bộ khoa học công nghệ,. làm cho năng suất lao động tăng nhanh, giải phóng một lượng lao động lớn ra khỏi ngành nông nghiệp.

Nếu không tạo đủ công 12 Luan van ăn, việc làm cho người nông dân, đặc biệt trong lúc nông nhàn với thu nhập được người nông dân chấp nhận, sẽ dẫn đến hiện tượng nông dân đổ xô ra các thành phố và các khu công nghiệp tìm kiếm việc làm gây nhiều vấn đề phức tạp cho việc quản lý lao động, quản lý xã hội, tình trạng xóm liều, phố liều, tệ nạn xã hội gia tăng. - Giải quyết việc làm Giải quyết việc làm là tổng thể những biện pháp, chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, cộng đồng và bản than người lao động tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động có việc làm. Giải quyết việc làm cho người lao động vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển. Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: “Giải quyết việc làm và đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đểu có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của doanh nghiệp và toàn xã hội”.

Nhà nước hằng năm đang nỗ lực tạo những điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài chính, cho vay vốn hoặc miễn giảm thuế và áp dụng các biện pháp khuyến khích để người lao động có khả năng tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu nhằm tạo việc làm cho ngày càng nhiều người lao động. Khái niệm thất nghiệp và các dạng thất nghiệp - Thất nghiệp Là những người lao động trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang ở trong tình trạng không có việc làm và đang đi tìm việc làm, đồng thời sẵn sàng đi làm ngay nếu được chấp nhận. Với quan niệm này, người thất nghiệp có thể là những công nhân trong các doanh nghiệp, học sinh, sinh viên tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp, bộ đội xuất ngũ nhưng chưa có việc làm. Những người trong độ tuổi lao động, hoặc ngoài độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng không có nhu cầu tìm việc làm thì không được coi là người thất nghiệp.

Ví dụ như: những người ốm đau, nghỉ tạm thời vì tai nạn, nghỉ phép, nhưng học sinh, sinh viên đang học ở các trường học, những người nội trợ. không phải là những người thất nghiệp. Tóm lại, những người lao động có khả năng lao động, mặc dù trong tình trạng không có việc làm nhưng không có nhu cầu tìm việc làm thì không phải là người thất nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ