Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KẾ TOÁN BÁN NHÓM HÀNG ĂN UỐNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KEM AN MINH 5.1 Cơ sở lý luận của kế toán bán hàng Nhóm định nghĩa về bán hàng Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp thương mại, nó chính là quá trình chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ tay người bán sang tay người mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ hoặc quyền được đòi tiền ở người mua. Các phương thức bán hàng trong doanh nghiệp thương mại: Phương thức bán buôn hàng hóa: là phương pháp bán hàng cho các đơn vị thương mại, các doanh nghiệp sản xuất… để thực hiện bán ra hoặc để gia công chể biến rồi bán ra. Phương thức bán lẻ hàng hóa: là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dung hoặc các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ. Phương thức bán hàng đại lý là phương thức bán hàng mà trong đó doanh nghiệp thương mại giao hàng cho cơ sở nhận đại lý, ký dửi để các chơ sở này trực tiếp bán hàng.
Sau khi bán được hàng, cơ sở đại lý thanh toán tiền hàng cho doanh nghiệp thương mại và được hưởng một khoản gọi là hoa hồng đại lý. Số hàng chuyển giao cho các cơ sở đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của các doanh nghiệp thương mại , đến khi nào cơ sở địa lý thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận thanh toán thì nghiệp vụ bán hàng mới hoàn thành. Nhóm khái niệm về doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu Theo chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác”, đoạn 03 : “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được trong kì kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.” Các khoản giảm trừ doanh thu: Khoản giảm giá hàng bán(đoạn 03-VAS14): là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. SVTH: Nguyễn Kim Chúc 5 Lớp: K47D2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Thanh Hương Khoản giá trị hàng bán bị trả lại(đoạn 03-VAS14): là giá trị khối lượng hàng bán xác định là tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.
Chiết khấu thương mại(đoạn 03-VAS14): là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua với khối lượng lớn. Giá vốn hàng bán là toàn bộ chi phí để tạo ra một thành phẩm. - Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán bán hàng Yêu cầu quản lý nghiệp vụ bán hàng. Trong quá trình bán hàng, tài sản của doanh nghiệp chuyển từ hình thía hàng hóa sang hình thái tiền tệ.
Do đó để quản lý nghiệp vụ bán hàng, các doanh nghiệp thương mại cần phải quản lý cả hai mặt tiền và hàng, cụ thể quản lý nghiệp vụ bán hàng cần phải đảm bảo các chỉ tiêu sau: - Quản lý về doanh thu bán hàng hóa, đây là cơ sở quan trọng để xác định nghĩa vụ doanh nghiệp đối với nhà nước, đồng thời là cơ sở để xác định chính xác kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thương mại. Trong nền kinh tế thị trường, quản lý doanh thu bao gồm: - Quản lý doanh thu thực tế: Doanh thu thực tế là doanh thu được tính theo giá bán ghi trên háo đơn hoặc trên hợp đồng bán hàng. - Quản lý các khoản giảm trừ doanh thu: Là các khoản phát sinh trong quá trình bán hàng, theo quy định cuối ký được trừ khoải doanh thu thực tế. Các khoản giảm trừ khỏi doanh thu.
Nhiệm vụ của kế toán nghiệp vụ bán hàng. Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình kinh doanh của một doanh nghiệp thương mại, nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy để quản lý tốt nghiệp vụ này, kế toán nghiệp vụ bán hàng cần phải thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau đây: - Ghi chép và phản ánh chính xác kịp thời tình hình bán hàng của doanh nghiệp cả về số lượng, cả về trị giá theo từng mặt hàng, nhóm hàng. - Phản ánh và giám đốc chính xác tình hình thu hổi tiền, tình hình công nợ và thanh toán công nợ phải thu ở người mua.
- Tính toán chính xác giá vốn của hàng hóa tiêu thụ, từ đó xác định chính xác kết quả bán hàng. SVTH: Nguyễn Kim Chúc 6 Lớp: K47D2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Thanh Hương - Cung cấp những thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận liên quan, trên cơ sở đó có những biện phát kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động kinh doanh, giúp cho ban giám đốc nắm được thực trạng, tình hình tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp mình và kịp thời có những chính sách điều chỉnh thích hợp với thị trường. Định kỳ tiến hành phân tích kinh tế đối với hoạt động bán hàng, thu nhập và phân phối kết quả của doanh nghiệp. Kế toán bán hàng trong các doanh nghiệp 1.1 Kế toán bán hàng theo quy định của chuẩn mực kế toán hiện hành Theo VAS 01 “ chuẩn mực chung” chuẩn mực này quy định các vấn đề cơ sở, nền tảng về kế toán: các nguyên tắc cơ bản, các yếu tố của báo cáo tài chính, phương pháp ghi nhận các yếu tố này.
Một số nguyên tắc cơ bản: Cơ sở dồn tích(đoạn 03); Hoạt động liên tục (đoạn 04) ; Giá gốc ( đoạn 05); Phù hợp (đoạn 06); Nhất quán (đoạn 07); Thận trọng (08); Trọng yếu (09). Theo VAS 02 “ hàng tồn kho” quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán hàng tồn kho, gồm: Xác định giá trị và kế toán hàng tồn kho vào chi phí; Ghi giảm giá trị hàng tồn kho cho phù hợp với giá trị thuần có thể thực hiện được và phương pháp tính giá trị hàng tồn kho làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính. Theo VAS 14 “ doanh thu và thu nhập khác” quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác, gồm: Các loại doanh thu, thời điểm ghi nhận doanh thu, phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính. Kế toán bán hàng theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014 của Bộ tài chính.1 Chứng từ sử dụng.
Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014 tại điều 8 khoản 3 quy định về chứng từ kế toán như sau: “Các chứng từ kế toán đều thuộc loại hướng dẫn (không bắt buộc), doanh nghiệp có thể lựa chọn áp dụng theo biểu mẫu ban hành kèm theo phụ lục số 3 Thông tư này hoặc được tự thiết kế phù hợp với đặc SVTH: Nguyễn Kim Chúc 7 Lớp: K47D2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Thanh Hương điểm hoạt động và yêu cầu quản lý của đơn vị nhưng phải đảm bảo cung cấp những thông tin thoe quy định của Luật kế toán và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế. Như vậy, doanh nghiệp được chủ động xây dựng, thiết kế biểu mẫu chứng từ kế toán nhưng phải đáp ứng được các yêu cầu của Luật Kế toán và đảm bảo rõ ràng, minh bạch. Tùy theo phương thức, hình thức bán hàng mà kế toán nghiệp bán hàng có thể sử dụng các chứng từ sau: - Hóa đơn GTGT (Mẫu số 01 GTKT -3LT đối với nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ). - Hóa đơn bán hàng thông thường (Mẫu số 02 GTGT-3LL đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng không chịu thuế GTGT) - Bảng kê bán lẻ hàng hóa.
- Phiếu xuất kho (Mẫu số 02-VT). - Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ. - Hợp đồng kinh tế với khách hàng. - Các chứng từ phản ánh tình hình thanh toán.
- Phiếu thu, phiếu chi. - Giấy báo nợ, báo cáo có của ngân hàng.2 Tài khoản sử dụng. Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” Nguyên tắc hạch toán: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán, bao gồm cả doanh thu bán hàng hoá, sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho công ty mẹ, công ty con trong cùng tập đoàn. Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán của hoạt động SXKD từ các giao dịch và các nghiệp vụ sau: Bán hàng: Bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, bán hàng hoá mua vào và bán bất động sản đầu tư; SVTH: Nguyễn Kim Chúc 8 Lớp: K47D2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Thanh Hương Cung cấp dịch vụ: Thực hiện công việc đã thoả thuận theo hợp đồng trong một kỳ, hoặc nhiều kỳ kế toán, như cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch, cho thuê TSCĐ theo phương thức cho thuê hoạt động, doanh thu hợp đồng xây dựng.
Doanh thu khác. Tài khoản 521: “Các khoản giảm trừ doanh thu” Nguyên tắc hạch toán: Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản được điều chỉnh giảm trừ vào doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ phát sinh trong kỳ, gồm: Chiết khẩu thương mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại. Tài khoản này không phản ánh các khoản thuế được giảm trừ vào doanh thu như thuế GTGT đầu ra phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp. Chiết khấu thương mại là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.
Bên bán hàng thực hiện kế toán chiết khấu thương mại theo những nguyên tắc sau: - Trường hợp trong hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn bán hàng đã thể hiện khoản chiết khấu thương mại cho người mua là khoản giảm trừ vào số tiền người mua phải thanh toán (giá bán phản ánh trên hoá đơn là giá đã trừ chiết khấu thương mại) thì doanh nghiệp (bên bán hàng) không sử dụng tài khoản này, doanh thu bán hàng phản ánh theo giá đã trừ chiết khấu thương mại (doanh thu thuần). - Kế toán phải theo dõi riêng khoản chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp chi trả cho người mua nhưng chưa được phản ánh là khoản giảm trừ số tiền phải thanh toán trên hóa đơn. Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho người mua do sản phẩm, hàng hoá kém, mất phẩm chất hay không đúng quy cách theo quy định trong hợp đồng kinh tế.