Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế tại Việt Nam, nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển nhằm tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu, nâng cao năng lực cạnh tranh và duy trì tăng trưởng kinh tế là rất lớn. Để huy động và phân bổ nguồn lực tài chính có trọng tâm, Chính phủ đã triển khai hệ thống các chính sách tín dụng ưu đãi, trong đó hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước giữ vai trò then chốt. Nhà nước đã chuyển dần cơ chế tài trợ từ hình thức cấp phát ngân sách không hoàn lại sang cơ chế cho vay có hoàn lại thông qua việc thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển, sau đó tổ chức lại thành Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB).

Thực tế triển khai tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Hải Phòng cho thấy nguồn vốn tín dụng đầu tư đã tài trợ cho nhiều chương trình, dự án trọng điểm trên địa bàn. Tuy nhiên, hoạt động này bộc lộ những khó khăn mang tính cấp bách: tình hình nợ quá hạn và số lãi phải thu chưa thu được có xu hướng gia tăng theo từng dự án; nhiều khoản vay rơi vào tình trạng "đóng băng" nhiều năm không thể thu hồi. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Vũ Mai Anh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp xử lý.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm 3 nội dung:

  1. Khái quát cơ sở lý luận khoa học về hiệu quả hoạt động cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước tại Ngân hàng Phát triển (trong phần mục đích nghiên cứu tác giả có nhắc tới mô hình ngân hàng thương mại để so sánh đối chiếu).
  2. Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Hải Phòng giai đoạn 2013-2015.
  3. Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Hải Phòng và toàn hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực tế tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Việt Nam Hải Phòng.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát, thu thập và phân tích dữ liệu trong giai đoạn 3 năm, từ năm 2013 đến năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các định nghĩa chuyên ngành và khung khổ pháp lý về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước:

  • Khái niệm: Tín dụng đầu tư của Nhà nước là hình thức thực hiện chính sách đầu tư phát triển của Nhà nước, phản ánh quan hệ vay mượn và hoàn trả giữa Nhà nước (đại diện là Ngân hàng Phát triển) với các pháp nhân, thể nhân trong nền kinh tế, áp dụng các cơ chế ưu đãi cho từng đối tượng nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng vĩ mô.
  • Đặc điểm của tín dụng đầu tư: Tính kinh tế vĩ mô (vốn mồi cho cơ sở hạ tầng, không cạnh tranh với ngân hàng thương mại), tính kinh tế vi mô (hỗ trợ giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư ở các lĩnh vực lợi nhuận thấp), tính xã hội (tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo), tính lịch sử (thu hẹp phạm vi khi thị trường hoàn thiện) và hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.
  • Cơ sở pháp lý: Nghị định số 43/1999/NĐ-CP (văn bản pháp lý nền tảng đầu tiên), Nghị định số 50/1999/NĐ-CP, Nghị định số 106/2004/NĐ-CP, Nghị định số 151/2006/NĐ-CP, Nghị định số 106/2008/NĐ-CP, Nghị định số 75/2011/NĐ-CP, Nghị định số 54/2013/NĐ-CP, Nghị định số 133/2013/NĐ-CP; Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Quyết định số 110/2006/QĐ-TTg phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của VDB; Quyết định số 44/2007/QĐ-TTg ban hành Quy chế quản lý tài chính đối với VDB; Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg về bảo lãnh vay vốn.
  • Khung phân loại nợ và rủi ro: Áp dụng theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và hướng dẫn phân loại nợ của VDB tại Công văn số 4426/NHPT-XLN ngày 22/12/2008 (phân chia nợ nhóm 3, 4 và 5).
  • Tiêu chuẩn thẩm định điều kiện vay vốn: Chủ đầu tư phải có vốn chủ sở hữu tham gia dự án tối thiểu 20%, có năng lực tài chính, phương án hoàn trả khả thi và tuân thủ các quy định về tài sản bảo đảm.

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả được khóa luận xác lập gồm:

  • Nhóm chỉ tiêu quy mô và cơ cấu: Dư nợ cho vay, tốc độ tăng trưởng dư nợ vay, tỷ lệ giải ngân vốn (Số vốn giải ngân / Số vốn cam kết theo hợp đồng tín dụng).
  • Nhóm chỉ tiêu kết quả hoạt động: Tỷ lệ thu hồi nợ gốc (Số nợ gốc thu được / Số nợ gốc phải thu), tỷ lệ thu nợ lãi (Số thu nợ lãi / Số nợ lãi phải thu).
  • Nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro: Tỷ lệ nợ quá hạn (Nợ quá hạn / Tổng dư nợ, tham chiếu ngưỡng an toàn 5% của Ngân hàng Thế giới), tỷ lệ nợ xấu (Nợ nhóm 3, 4, 5 / Tổng dư nợ), số lãi còn phải thu trên tổng số lãi phải thu, tỷ lệ khách hàng có nợ quá hạn, và tỷ lệ các khoản vay có tài sản bảo đảm.
  • Chỉ tiêu xã hội: Tạo việc làm mới, đóng góp ngân sách địa phương.

Phương pháp nghiên cứu thực hiện:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Sử dụng dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ của Ngân hàng Phát triển Chi nhánh Hải Phòng, bao gồm Báo cáo tài chính giai đoạn 2013-2015, Báo cáo công tác tổ chức năm 2015, Bảng cân đối kế toán và Báo cáo thống kê tín dụng các năm 2013, 2014, 2015.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh (so sánh giữa các năm, so sánh tốc độ tăng trưởng liên hoàn và định gốc), phương pháp lập bảng biểu tài chính, phương pháp phân tích chỉ số và phương pháp suy luận logic để diễn giải bản chất số liệu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận về hoạt động cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước tại Ngân hàng Phát triển

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở khoa học về ngân hàng thương mại và ngân hàng chính sách phát triển. Tác giả chỉ rõ sự khác biệt căn bản: ngân hàng thương mại hoạt động thuần túy vì mục tiêu lợi nhuận trong khi hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước do VDB thực hiện không vì lợi nhuận, là công cụ để điều tiết vĩ mô, hỗ trợ khắc phục các thất bại của thị trường và thúc đẩy công nghiệp hóa - hiện đại hóa.

Văn bản phân tích vai trò của tín dụng đầu tư Nhà nước qua 5 khía cạnh: công cụ ổn định kinh tế vĩ mô; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế then chốt; giải quyết áp lực chi ngân sách nhà nước; tăng nguồn thu ngân sách thông qua phát triển sản xuất; và tạo việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó, chương 1 phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả cho vay: cơ chế chính sách của Nhà nước, quy trình nghiệp vụ tín dụng, cơ cấu tổ chức bộ máy, năng lực kiểm soát nội bộ, nguồn vốn huy động, môi trường kinh tế vĩ mô, và năng lực - tính trung thực của chủ đầu tư.

Tác giả nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế từ hai mô hình ngân hàng phát triển tiêu biểu:

  • Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB): Thành lập tháng 3/1994, trực thuộc Nhà nước, kết hợp giữa mục tiêu chính sách và vận hành có lãi. CDB là tổ chức phát hành trái phiếu lớn thứ hai tại Trung Quốc sau Bộ Tài chính. Năm 2012, CDB huy động gần 2.200 tỷ Nhân dân tệ (trong đó có hơn 1.200 tỷ NDT trái phiếu nội tệ và hơn 100 tỷ USD ngoại tệ). Cuối năm 2013, tổng nguồn vốn đạt 860,39 tỷ NDT, vốn cấp 1 đạt 535,61 tỷ NDT, tỷ lệ an toàn vốn đạt 11,28%. CDB cho vay các dự án hạ tầng lớn với thời hạn lên tới 40 năm và áp dụng cơ chế phối hợp với chính quyền địa phương trong bảo lãnh nợ.
  • Ngân hàng Phát triển Nhật Bản (DBJ): Thành lập ngày 01/10/2008 trên cơ sở hợp nhất JDB (1951) và Tập đoàn Phát triển Tài chính công Hokkaido - Tohoku (1956). 100% vốn thuộc Nhà nước với 1.953 triệu Yên. Đến ngày 31/3/2013, tổng tài sản DBJ đạt 16.183,8 tỷ Yên, quy mô cho vay đạt 14.015,4 tỷ Yên, hệ số an toàn vốn đạt 15%. DBJ khai thác hiệu quả tiền gửi tiết kiệm bưu điện và quỹ phúc lợi, áp dụng hạn mức cho vay lên tới 90-100% tổng mức đầu tư của dự án.

Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Hải Phòng giai đoạn 2013-2015

Chương 2 mô tả quá trình hình thành của Chi nhánh VDB Hải Phòng (tiền thân là Chi nhánh Quỹ Hỗ trợ phát triển Hải Phòng thành lập năm 1999, chính thức chuyển đổi sang VDB từ ngày 01/7/2006 theo Quyết định số 03/QĐ-NHPT). Cơ cấu tổ chức gồm Ban Giám đốc và 7 phòng nghiệp vụ: Phòng Tín dụng 1, Tín dụng 2, Tín dụng 3, Phòng Kiểm tra kiểm soát nội bộ, Phòng Tổng hợp, Phòng Tài chính kế toán kho quỹ và Phòng Hành chính quản lý nhân sự. Đội ngũ nhân sự có trình độ đại học và sau đại học chiếm trên 92%.

Kết quả tài chính tổng quát giai đoạn 2013-2015 phản ánh chênh lệch thu chi luôn dương. Năm 2014, chênh lệch thu chi tăng 379 triệu đồng so với năm 2013; năm 2015 đạt mức tăng mạnh 1.569 triệu đồng (tương ứng tăng 12,52%). Thu phí quản lý năm 2014 tăng 20.980 triệu đồng (+5,42%), năm 2015 tăng 23.428 triệu đồng (+5,75%).

Thực trạng quy mô và doanh số cho vay vốn tín dụng đầu tư được phản ánh qua các chỉ tiêu:

  • Tỷ lệ giải ngân vốn vay theo hợp đồng tín dụng đạt từ 80% đến 100%.
  • Doanh số giải ngân có sự suy giảm nghiêm trọng: Năm 2013 đạt trên 636 tỷ đồng, nhưng đến năm 2015 chỉ đạt 20 tỷ đồng.
  • Số lượng dự án phát sinh mới rất thấp: Trong cả giai đoạn 2013-2015 chỉ có duy nhất 1 dự án mới được ký hợp đồng tín dụng; riêng năm 2013 và 2014 không có dự án mới nào. Tổng số dự án vay vốn giảm từ 91 dự án (năm 2013) xuống 90 dự án (năm 2014) và 84 dự án (năm 2015). Số dự án thực tế được giải ngân giảm dần từ 3 dự án (năm 2013) xuống 2 dự án (năm 2014) và chỉ còn 1 dự án (năm 2015).

Nguồn vốn tín dụng đầu tư tập trung tài trợ cho các ngành công nghiệp chủ lực và các chương trình mục tiêu:

Chương trình / Dự án vay vốn tín dụng đầu tư Giá trị giải ngân lũy kế (Tỷ đồng)
Chương trình sản xuất phân bón 1.920
Chương trình đóng mới 32 tàu biển 1.140
Hoàn thiện 20 tàu dở dang nhận bàn giao từ SBIC 881
Dự án sản xuất xi măng 641
Chương trình kiên cố hóa kênh mương và giao thông nông thôn 415
Dự án xây dựng nhà ở cho người thu nhập thấp 99
Chương trình cơ khí trọng điểm 6

Cơ cấu đối tượng vay vốn có sự mất cân đối lớn:

  • Về ngành nghề: Ngành công nghiệp đóng tàu chiếm tỷ trọng áp đảo. Vốn tín dụng đã hỗ trợ nâng cấp năng lực các cơ sở đóng tàu (như Bạch Đằng, Bến Kiền, Phà Rừng, Nam Triệu, Sông Cấm, Tam Bạc thuộc Vinashin/SBIC; Công ty Chế tạo thiết bị và đóng tàu Hải Phòng thuộc Lilama; Công ty Cơ khí tàu thuyền Hạ Long, Công ty Cơ khí đóng tàu thủy sản Hải Phòng thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), đóng mới các tàu tải trọng đến 53.000 tấn và bàn giao hơn 20 tàu viễn dương cho Vinalines.
  • Về thành phần kinh tế: Doanh nghiệp Nhà nước luôn chiếm trên 75% tổng dư nợ cho vay. Dư nợ khu vực này năm 2014 giảm 3,06% so với năm 2013 (tương đương giảm 169 triệu đồng trên số liệu trích dẫn báo cáo) và năm 2015 giảm 9,37% (tương đương giảm 501.464 triệu đồng). Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng thấp và có xu hướng giảm do quy mô dự án nhỏ.

Công tác thu hồi nợ và rủi ro tín dụng bộc lộ nhiều điểm nghẽn:

  • Thu hồi nợ gốc: Năm 2014 thu đạt mức cao nhất (578.354 triệu đồng, tăng 57,46% so với năm 2013, tương ứng tăng tuyệt đối 211.074 triệu đồng) do xử lý được tài sản bảo đảm. Sang năm 2015, thu gốc giảm 2,26% so với năm 2014.
  • Thu hồi nợ lãi: Suy giảm mạnh liên tục. Năm 2014 thu đạt 77.611 triệu đồng, giảm 32,55% so với năm 2013. Đến năm 2015, số lãi thu được tiếp tục giảm 46.334 triệu đồng, tương ứng giảm 59,7% so với năm 2014.
  • Số lượng dự án trả nợ: Giữ nguyên ở mức 40 dự án trong suốt 3 năm 2013-2015, không có thêm dự án mới phát sinh dòng tiền trả nợ. Các khách hàng lớn ngành đóng tàu và vận tải biển gần như mất khả năng trả nợ.
  • Tỷ lệ nợ quá hạn: Dao động trong ngưỡng 5% đến 7%/năm. Sự sụt giảm của tỷ lệ nợ quá hạn trên sổ sách không đến từ hiệu quả thu hồi nợ thực tế, mà do thực hiện chính sách khoanh nợ toàn bộ dư nợ cho các đơn vị thuộc Vinashin và giãn hoãn nợ gốc cho Vinalines (lùi thời hạn trả nợ gốc đến ngày 01/01/2014).

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước tại Ngân hàng Phát triển Chi nhánh Hải Phòng

Chương 3 đặt ra định hướng hoạt động của VDB đến năm 2020, tầm nhìn 2030, bám sát chủ trương tái cơ cấu đầu tư công của Chính phủ. Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp và kiến nghị:

  • Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách: Hoàn thiện quy chế quản lý vốn tín dụng đầu tư; điều chỉnh danh mục dự án vay vốn tập trung vào các công trình có khả năng hoàn vốn, không dàn trải; rà soát cơ chế lãi suất cho vay tiếp cận thị trường; hoàn thiện cơ chế trích lập và xử lý rủi ro tín dụng đặc thù của ngân hàng chính sách.
  • Nhóm giải pháp về tổ chức hoạt động và quản trị cho vay: Nâng cao năng lực thẩm định dự án, đặc biệt là thẩm định phương án tài chính và dòng tiền trả nợ; tăng cường kiểm tra trước, trong và sau giải ngân để kiểm soát việc sử dụng vốn đúng mục đích; củng cố hoạt động kiểm soát nội bộ; chuyên môn hóa 3 phòng tín dụng và phòng thẩm định.
  • Giải pháp xử lý nợ đọng và tài sản bảo đảm: Tích cực phối hợp các cơ quan pháp luật xử lý dứt điểm các tài sản thế chấp của các dự án thua lỗ; áp dụng các biện pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ phù hợp với chu kỳ khai thác thực tế của dự án.
  • Kiến nghị cụ thể:
    1. Đối với Chính phủ và các Bộ, Ngành: Sửa đổi, hoàn thiện các nghị định về tín dụng đầu tư; có cơ chế xử lý nợ đặc thù đối với các tập đoàn kinh tế lớn (như Vinashin, Vinalines); cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý đầy đủ, kịp thời.
    2. Đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam (Hội sở chính): Phân cấp thẩm quyền linh hoạt cho chi nhánh trong thẩm định và cơ cấu nợ; tăng cường đầu tư hệ thống công nghệ thông tin phục vụ quản trị rủi ro; tổ chức đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu cho cán bộ tín dụng.
    3. Đối với chủ đầu tư / khách hàng vay vốn: Nâng cao năng lực quản trị dự án; đảm bảo vốn chủ sở hữu tham gia đúng cam kết tối thiểu 20%; minh bạch báo cáo tài chính và phối hợp chặt chẽ với ngân hàng trong quá trình khai thác tài sản hình thành từ vốn vay.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả phân tích số liệu thực tế, nghiên cứu đã tổng hợp và chỉ rõ:

  • Tỷ lệ giải ngân các hợp đồng đã ký đạt mức cao (80-100%), song việc mở rộng tín dụng mới bị thu hẹp nghiêm trọng khi doanh số giải ngân giảm từ trên 636 tỷ đồng (2013) xuống còn 20 tỷ đồng (2015), chỉ có 1 hợp đồng mới được ký kết trong 3 năm.
  • Nguồn vốn tín dụng tập trung lớn vào các ngành công nghiệp nặng, tiêu biểu là phân bón (1.920 tỷ đồng), đóng tàu (1.140 tỷ đồng đóng mới và 881 tỷ đồng hoàn thiện tàu dở dang từ SBIC), và cơ sở hạ tầng nông thôn (415 tỷ đồng).
  • Tỷ trọng cho vay doanh nghiệp Nhà nước chiếm áp đảo trên 75% dư nợ.
  • Tỷ lệ nợ quá hạn duy trì từ 5% đến 7%/năm, nhưng số liệu này phản ánh tác động của việc khoanh nợ Vinashin và tái cơ cấu nợ Vinalines hơn là sự cải thiện về chất lượng tín dụng nội tại.

Đóng góp của khóa luận:

  • Tác giả đã phác thảo bức tranh thực trạng hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước tại địa bàn Hải Phòng trong giai đoạn tái cấu trúc kinh tế (2013-2015).
  • Khóa luận làm rõ mối liên hệ giữa chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước với sự phụ thuộc tài chính của khối doanh nghiệp Nhà nước (đặc biệt là ngành đóng tàu và vận tải biển).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp phân định theo cấp độ thực hiện từ cơ chế vĩ mô (Chính phủ, Bộ ngành) đến vi mô (quản trị tại chi nhánh và trách nhiệm của khách hàng vay vốn).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận thừa nhận các hạn chế nhất định xuất phát từ điều kiện nghiên cứu:

  • Hạn chế về thời gian thực tập, năng lực thực tiễn và tính sẵn có của dữ liệu nội bộ tại chi nhánh ngân hàng.
  • Nguồn số liệu dừng lại ở giai đoạn 2013-2015, chưa thể phản ánh toàn diện tác động dài hạn của các đề án tái cơ cấu SBIC và Vinalines ở giai đoạn sau.
  • Phạm vi nghiên cứu giới hạn tại một chi nhánh địa phương (Hải Phòng), chưa có điều kiện so sánh định lượng chéo với các chi nhánh VDB khác trên toàn quốc.

Hướng nghiên cứu mở rộng:

  • Mở rộng phân tích dữ liệu tín dụng đầu tư trong giai đoạn từ sau năm 2015 nhằm đánh giá kết quả xử lý dứt điểm các khoản nợ khoanh và nợ cơ cấu của ngành đóng tàu.
  • Đánh giá sâu hơn tác động của Nghị định số 32/2017/NĐ-CP (văn bản thay thế Nghị định 75/2011/NĐ-CP sau này) đối với điều kiện và phạm vi cấp tín dụng đầu tư Nhà nước.

Giá trị tham khảo

Tài liệu có giá trị tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Tài chính doanh nghiệp tại các trường đại học khối kinh tế khi thực hiện khóa luận, đề án về tín dụng chính sách, tín dụng phát triển hoặc quản trị nợ xấu.
  • Cán bộ nghiệp vụ tín dụng và quản lý rủi ro tại hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam tham khảo các phát hiện thực tế về kiểm soát dòng tiền giải ngân và rủi ro tập trung ngành.
  • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến đề tài tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước, tài chính công và bài học từ các khoản tín dụng ưu đãi dành cho ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam.

Phần đáng tham khảo nhất trong khóa luận là hệ thống số liệu chi tiết về giải ngân theo chương trình kinh tế (Bảng 2.2, Bảng 2.3) và các phân tích về cơ chế khoanh nợ, giãn nợ đối với các tập đoàn kinh tế Nhà nước tại Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Hải Phòng được thành lập vào thời gian nào và cơ cấu tổ chức gồm những phòng ban nào?
Chi nhánh chính thức hoạt động từ ngày 01/7/2006 theo Quyết định số 03/QĐ-NHPT của Tổng Giám đốc VDB (tiền thân là Chi nhánh Quỹ Hỗ trợ phát triển Hải Phòng). Mô hình tổ chức gồm Ban Giám đốc và 7 phòng nghiệp vụ: Phòng Tín dụng 1, Phòng Tín dụng 2, Phòng Tín dụng 3, Phòng Tổng hợp, Phòng Kiểm tra kiểm soát nội bộ, Phòng Tài chính kế toán kho quỹ, và Phòng Hành chính quản lý nhân sự.

2. Tình hình ký kết hợp đồng tín dụng mới và doanh số cho vay tại Chi nhánh Hải Phòng giai đoạn 2013-2015 diễn biến ra sao?
Hoạt động mở rộng cho vay mới gặp nhiều khó khăn. Trong cả giai đoạn 2013-2015, Chi nhánh chỉ ký kết được duy nhất 1 hợp đồng tín dụng mới (năm 2013 và 2014 không có hợp đồng mới). Doanh số cho vay sụt giảm mạnh từ mức trên 636 tỷ đồng (năm 2013) xuống chỉ còn 20 tỷ đồng (năm 2015).

3. Chương trình kinh tế nào nhận được nguồn vốn tín dụng đầu tư lớn nhất từ Chi nhánh Hải Phòng trong giai đoạn này?
Chương trình nhận nguồn vốn giải ngân lớn nhất là các dự án sản xuất phân bón với 1.920 tỷ đồng. Xếp thứ hai là ngành công nghiệp đóng tàu bao gồm chương trình đóng mới 32 tàu biển (1.140 tỷ đồng) và chương trình đóng, hoàn thiện 20 tàu dở dang nhận bàn giao từ SBIC (881 tỷ đồng).

4. Tại sao tỷ lệ nợ quá hạn tại Chi nhánh giai đoạn 2013-2015 duy trì ở mức 5% - 7% nhưng không phản ánh đúng kết quả thu hồi nợ thực tế?
Nguyên nhân là do phần lớn dư nợ tập trung ở các đơn vị thuộc Vinashin đã được Nhà nước xử lý hạch toán khoanh nợ, đồng thời các dự án thuộc Vinalines được áp dụng chính sách cơ cấu lại nợ (lùi thời hạn trả nợ gốc đến ngày 01/01/2014). Việc loại trừ hoặc giãn tiến độ trả nợ trên sổ sách kế toán đã giữ cho tỷ lệ nợ quá hạn ở mức 5% - 7%, trong khi thực tế số dự án trả được nợ không tăng (giữ nguyên 40 dự án) và số thu nợ lãi giảm tới 59,7% trong năm 2015.

5. Khóa luận rút ra bài học kinh nghiệm gì từ Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB) và Ngân hàng Phát triển Nhật Bản (DBJ)?
Tác giả rút ra bài học về việc đa dạng hóa nguồn vốn huy động (CDB phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh ra thị trường trong nước và quốc tế, DBJ huy động qua quỹ tiết kiệm bưu điện và bảo hiểm); áp dụng thời hạn cho vay dài hạn phù hợp tính chất dự án hạ tầng (lên tới 40 năm tại CDB); và xây dựng cơ chế phối hợp với chính quyền địa phương để quản lý thu hồi nợ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Vũ Mai Anh đã phản ánh chi tiết thực trạng hoạt động cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Hải Phòng giai đoạn 2013-2015. Tác giả đã tổng hợp hệ thống dữ liệu thứ cấp xác thực để làm rõ nghịch lý giữa tỷ lệ giải ngân cao với sự sụt giảm mạnh về doanh số cho vay mới và những vướng mắc nghiêm trọng trong thu hồi nợ tại các dự án trọng điểm thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước. Các giải pháp và kiến nghị đề xuất trong công trình bám sát định hướng tái cơ cấu của hệ thống VDB và yêu cầu thực tiễn trong công tác quản trị rủi ro tín dụng chính sách.