đặt vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho hàng trăm nghìn lao động, tạo cuộc sống ôn định, an ninh xã hội được đảm bảo tạo tiền đề cho một sự phát triển bền vững. Vì vậy, đối với khoản vay xuất khẩu lớn, chiến lược nhưng có nhiều rủi ro, song lại mang lại hiệu quả xã hội lớn thì tín dụng xuất khâu của Nhà nước tại NHPT là sự lựa chọn hàng đầu. Tuy nhiên, do các nguồn lực của nhà nước là có hạn và NHPT được thiết kế là một kênh cung cấp tín dụng có hiệu quả (trên cơ sở thu hồi vốn cho vay) chứ không phải là một kênh cung cấp miễn phí các khoản tín dụng. - Đối tượng được chọn lọc và hạn chế.
Mỗi quốc gia sẽ xác định những mat hàng xuất khẩu chiến lược trong từng thời ky phát triển kinh tế và sử dụng nhiều biện pháp đồng bộ nhằm thúc đây mặt hàng đó, tín dụng xuất khâu của nhà nước được thiết kế để thực hiện yêu cầu này. Do đó, đối tượng cho vay của Ngân hàng phát triển hạn chế hơn các NHTM, các đối tượng có thé thay đồi trong từng thời ky tuỳ thuộc vào chiến lược xuất khâu. Đặc điểm này cho thấy hoạt động cho vay của Ngân hàng phát triển mang tính chất tập trung vào mũi nhọn chứ không mang tính rộng khắp như hoạt động tín dụng của các NHTM. - Cơ chế cho vay wu đãi hơn hình thức cho vay thông thường: + Ưu đãi về lãi suất: điều này chỉ Ngân hàng phát triển mới làm được vi Nhà nước sẽ cấp bù chênh lệch lãi suất hoặc tự huy động được từ những nguồn có lãi suất rẻ hơn lãi suất của thị trường (lãi suất của Ngân hàng thương mại).
Chính nhờ mức lãi suất thấp của tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, các doanh nghiệp có thé thực hiện đầu tư đổi mới công nghệ, giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm từ đó nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên trên thị trường quốc tế. + Ưu đãi về thời han cho vay: Các NHTM thường ngần ngại khi cho vay đối với các dự án có thời hạn vay dài vì rủi ro cao và không tương thích với kỳ hạn huy động thường có của họ trong khi tín dụng ưu đãi của nhà nước sẵn sàng chấp nhận rủi ro ở mức nhất định và tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoàn trả nợ theo đúng chu kỳ sinh lợi của dự án, kỳ thu tiền của hợp đồng xuất khâu nên sẽ thay NHTM hỗ trợ cho vay đối với các đơn vị sản xuất, chế biến kinh doanh có nhu cầu vay vốn trong thời gian dài. + Ưu đãi về đảm bảo tiền vay: khi vay vốn tại các ngân hàng thương mại các đơn vị, đặc biệt là các doanh nghiệp mới, kinh doanh những mặt hàng có rủi ro cao phải thế chấp tài sản và có khi mức thế chấp bằng hoặc cao hơn giá trị khoản vay; tuy nhiên, không phải đơn vị nào cũng có đủ tài sản để thế chấp khi vay vốn NHTM, vì vậy tín dụng ưu đãi của nhà nước có cơ chế riêng về đảm bảo tiền vay với một mức tài sản bảo đảm tối thiểu hoặc thâm chí không phải có tài sản bảo đảm khi vay vốn. * Phân loại: - Cho vay nhà xuất khẩu: Về nguyên tắc, cho vay xuất khẩu có thé cung cấp cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu, tuy nhiên do thời gian thanh toán ngắn nên các cơ quan cung cấp tín dụng thường thực hiện cho vay với thời hạn ngắn đối với nhà xuất khẩu.
+ Cho vay trước khi giao hàng: Là việc NHPT cho vay dé thu mua nguyên vật liệu và các yếu tố sản xuất, kinh doanh dé thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Đối với cho vay trước khi giao hàng, các ngân hàng rất cân thận khi xem xét hạn mức cho vay vì nhà xuất khâu bao giờ cũng muốn tối đa hoá giá trị khỏan vay, trong khi khả năng thanh toán lại không chỉ phụ thuộc vào một chỉ tiêu là tình hình tài chính của Khách hàng. Các nhà xuất khẩu rất cần tín dụng trước khi giao hàng để mua nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào khác dé có thé sản xuất và thu mua đủ hàng theo đơn đặt hàng. Khoản tín dụng trước khi giao hàng để thanh toán các chi phí liên quan trực tiếp đến hợp đồng xuất khâu như mua nguyên vật liệu đầu vào đề sân xuất hàng xuất khẩu, đóng gói, chi phí kiểm định hàng hoá, chi phí vận tải va giao nhận hàng, tiền đóng thuế xuất khâu.
+ Cho vay sau khi giao hàng: Là khoản tín dụng cấp cho nhà xuất khẩu trong khoảng thời gian ké từ sau khi giao hàng đến khi nhận được tiền thanh toán. Thời gian của các khoản vay này thường từ một tuần đến vai năm tùy thuộc vào hình thức thanh toán của hợp đồng/L/C xuất khâu. Tùy thuộc vào tính chất của bộ chứng từ, độ tín nhiệm của nhà xuất khẩu, nha nhập khẩu cũng như điều khoản thanh toán, các tô chức tín dụng sẽ quyết định tài trợ hay không tài trợ. - Cho vay nhà nhập khẩu nước ngoài: Là khoản vay dành cho các nhà nhập khâu người nước ngoài để tài trợ xuất khâu hoặc tài trợ dự án.
Thường thì cho vay nhà nhập khâu phô biến ở những nước có nền tài chính phát triển, có lượng vốn dồi dao hoặc trong các trường hợp viện trợ phát triển chính thức của Chính phủ. Các khoản vay cung cấp cho nhà nhập khâu đặc biệt có tác dụng thúc đây xuất khâu khi được cung cấp bởi tô chức của Chính phủ nước xuất khâu khi hàng hóa muốn xuất khẩu là loại thuộc điện khuyến khích phát triển xuất khâu, hàng hóa có giá trị cao và quảng bá trên thị trường thế giới khi nước ngoài chưa biết đến danh tiếng của hàng hóa, doanh nghiệp sản xuất loại hàng hóa đó và tạo được thị trường mới cho các tư liệu sản xuất muốn xuất khâu khi đầu tư cho dự án ở nước ngoài, đồng thời nhà xuất khẩu yên tâm sản xuất vì không lo chịu rủi ro mất khả năng thanh toán từ nhà nhập khẩu và các kế hoạch kinh doanh được thực hiện trôi chảy hơn, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm, thúc đầy sản xuất trong nước phát triển. Đi kèm với sản phẩm cho vay này thường là các khoản bảo lãnh thanh toán, bảo hiểm của một tô chức có uy tín hoặc chính phủ nước nhập khẩu đối với nghĩa vụ thanh toán của nhà nhập khâu. Khoản vay dành cho nhà nhập khẩu thường được thực hiện sau khi nhà xuất khâu đã thực hiện giao hàng và được thực hiện theo các hình thức như: cho vay trực tiếp, tài trợ dự án (Project finance) và cho vay thông 10 qua ngân hàng phục vụ nhà nhập khâu (Inter-bank export credit).
- Cho vay mua thức ăn chăn nuôi thủy sản phục vụ các doanh nghiệp thủy sản xuất khẩu: các doanh nghiệp phải có hợp đồng xuất khâu hoặc hợp đồng bán thủy sản cho doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu, có phương án nuôi thủy san phục vụ xuất khẩu có hiệu quả. Các tiêu chí đánh giá hoạt động cho vay xuất khẩu: Phát triển cho vay xuất khẩu là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm /ăng frưởng cho vay xuất khẩu (mở rộng tín dụng xuất khẩu). Néu như tăng trưởng cho vay xuất khẩu về cơ bản chỉ là sự tăng trưởng thuần tuý về doanh số cho vay, quy mô cho vay va ty lệ vốn vay trong tông kim ngạch xuất khâu. thi Phát triển cho vay xuất khẩu của Nhà nước ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của hoạt động cho vay xuất khẩu, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu cho vay theo hướng chuyên dần các hình thức cho vay trực tiếp sang các hình thức cho vay gián tiếp và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng.
Có thé kế đến một số tiêu chí quan trọng phản ánh hiệu quả kinh tế và sự phát trién TDXK của NHPT như sau: * Tiêu chí đánh giá sự phát triển cho vay xuất khẩu: - Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cua các mặt hàng được vay vốn TDXK. Tốc độ tăng KNXKnămsau - KNXK năm trước x 100% trưởng KNXK KNXK năm trước + Đây cũng chính là điểm khác biệt lớn với các NHTM vì NHTM| ấy tiêu chí du nợ là chỉ tiêu quan trọng nhất dé đánh giá sự phát tri én về tín dụng xuất khâu (dư nợ càng cao thì ngân hàng càng thu được nhiều lợi nhuận đó chính là mục tiêu hoạt động của các NHTM ). Sở dĩ NHPT lấy chỉ tăng trưởng kim ngạch xuất khâu của các mặt hàng vay vốn là tiêu chí quan trọng nhất vì m ục tiêu của tín dụng xuất khâu của Nhà nước là thúc day cho các mặt hàng xuất khẩu then chốt, chiến lược của quôc gia. 11 + Tốc độ tăng trưởng kim ngạch của các mặt hàng vay vốn phản ánh sự mở rộng cho vay đôi với các mặt hàng thuộc đối tượng được vay vốn TDXK hạtập trung ưu đãi của nhà nước đang hướng vào mặt hàng nàoTuy nhiên dé chính xác khi so sánh chỉ tiêu này cũng cần xem xét đến các chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay với tốc độ tăng trưởng kim ngạch của các mặt hàng thuộc đối tượng được hưởng shth tin dung xuất khâu + Nếu tốc độ tăng trưởng của doanh số cho vay lớn hơn tốc độ tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng được hưởng tín dụng xuất khẩu thì khi đó hoạt động TDXK mới thực sự là phát tri én còn nếu tốc độ tăng trưởng của doanh số cho vay nhỏ hơn hoặc bằng tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khâu thì đó mới chỉ đơn thuần tăng về giá trị do nhu cầu vốn lưu động tăng vì giá các đầu vào tăng chứ chưa chắc đã tăng về khối lượng hàng hoá xuất khẩu được vay vốn.
- Doanh số cho vay và tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay: + Doanh số cho vay: là tổng số tiền đã cho vay trong kỳ (thống kê theo năm). Doanh số cho vay phản ánh dung lượng hoạt động cho vay trong kỳ. Trong một phương án sản xuất kinh doanh hàng xuất khâu, cơ cầu nguồn vốn gồm: Vốn tự có (tối thiểu 15%), vốn tín dụng xuất khẩu, vốn huy động khác. Mức vốn tín dụng xuất khâu tài trợ tối đa 85% tong vốn tham gia phương án sản xuất hàng xuất khâu.