CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm và vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động xúc tiến thương mại 1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động xúc tiến thương mại Thương mại với nghĩa là một ngành dịch vụ phân phối, có vai trò quan trọng sống còn đối với bất kỳ một nền kinh tế sản xuất hàng hoá nào dù là lớn hay nhỏ, dù là phát triển hay đang phát triển. Thương mại thực hiện các chức năng xuất, nhập khẩu, phân phối, lưu thông, và là các mắt xích không thể thiếu trong hệ thống phân phối hàng hoá từ khâu sản xuất tới người tiêu dùng cuối cùng.
Thương mại giữ vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện tái sản xuất mở rộng xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất, phát triển kinh tế và gia tăng lợi ích cho người tiêu dùng, cải thiệt chất lượng cuộc sống con người. Khi xã hội càng phát triển, trình độ phân công lao động xã hội, trình độ chuyên môn hoá càng cao và nhu cầu của người tiêu dùng càng được cá biệt hoá thì vai trò của thương mại càng trở nên quan trọng. Thực tiễn, các nước tiên tiến nhất cũng là các nước có nền thương mại phát triển hàng đầu thế giới và đóng góp của thương mại cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ở những nước này cao hơn hẳn so với tỷ trọng thương mại/GDP của những nước khác. Ví dụ, Hoa Kỳ là siêu cường kinh tế thế giới cũng là nước có kim ngạch trao đổi ngoại thương lớn nhất thế giới.
Đặc biệt, đóng góp của thương mại bán buôn, bán lẻ trong cơ cấu GDP của Hoa Kỳ cũng rất cao. Theo Vụ thống kê kinh tế, Bộ Thương mại Hoa Kỳ, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của Hoa Kỳ năm 2005 đạt 3.280,0 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 1.283,07 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu đạt 1.997,44 tỷ USD, nhập siêu hàng hoá và dịch vụ là 714,4 tỷ USD. Doanh số bán buôn hàng hoá của các nhà bán buôn chủ sở hữu Hoa Kỳ (Merchant wholesalers) (không tính doanh số bán buôn của các nhà sản xuất/chế tạo) năm 2005 đạt 3.858,0 tỷ USD và bằng khoảng 29,7% so với GDP của Hoa Kỳ. Còn doanh số bán lẻ hàng hoá và dịch vụ thì đạt khoảng 3.693,4 tỷ USD năm 2005, chiếm khoảng 24% trong GDP (13.000,0 tỷ USD năm 2005) của Hoa Kỳ.
Thương mại cũng góp phần quan trọng trong tạo công ăn, việc làm cho xã hội, trong đầu tư phát triển kinh doanh tạo ra của cải, vật chất cho xã hội, thực hiện giá trị gia tăng cho nền kinh tế; Lấy ví dụ về trường hợp của Hoa Kỳ, theo số liệu thống kê 3 Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn việc làm của Bộ Lao Động (DOL) nước này, lĩnh vực bán buôn chiếm khoảng 4,4% lực lượng lao động và 7,0% số lượng cơ sở kinh doanh của Hoa Kỳ; số liệu tương ứng của lĩnh vực bán lẻ là 11,6% và 12,1% năm 2006. Vai trò quan trọng của thương mại trong nền kinh tế quốc dân còn được thể hiện rất rõ trong lý thuyết về chuỗi cung ứng (Supply Chain) hay chuỗi giá trị (Value Chain). Nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá và quốc tế hoá hiện nay, các chuỗi này được nghiên cứu ở phạm vi toàn cầu. Chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chain - GVC) được định nghĩa là một dây chuyền (chuỗi) sản xuất - kinh doanh theo phương thức toàn cầu hoá, trong đó nhiều nước, mà chủ yếu là doanh nghiệp, tham gia vào các công đoạn khác nhau, từ thiết kế; chế tạo; marketing; đến phân phối; hỗ trợ người tiêu dùng.
GVC cho phép các công đoạn của chuỗi đặt tại những địa điểm (quốc gia) có khả năng đạt hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Vai trò then chốt của GVC thường là các tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs) do tính chất hoạt động xuyên biên giới và khả năng thu hút hợp tác, thương mại và đầu tư quốc tế của những tập đoàn này. Lý thuyết chuỗi cũng chỉ ra rằng, trong 3 công đoạn chính của chuỗi là: (1) nghiên cứu và thiết kế, (2) sản xuất, lắp ráp và (3) thương mại thì công đoạn 1 và 3 là tạo ra giá trị gia tăng lớn nhất. Như vậy, phát triển thương mại chính là cách thức không chỉ để thực hiện mà quan trọng là để nâng cao giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Khái niệm quản lý nhà nước đối với xúc tiến thương mại là các chính sách thương mại , hệ thống các quan điểm, chuẩn mực, thể chế, biện pháp, thủ thuật mà nhà nước sử dụng, tác động vào thị trường để điều chỉnh các hoạt động nhằm tăng cường và xúc tiến thương mại trong và ngoài nước phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn nhất định. Về thực chất, chính sách xúc tiến thương mại là một bộ phận của chính sách kinh tế của Nhà nước, nó có quan hệ chặt chẽ và phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tất cả các nền kinh tế thị trường của các nước đã và đang phát triển đều có sự quản lý, điều khiển, can thiệp của Nhà nước ở những phạm vi và mức độ khác nhau và bằng các phương thức khác nhau. Ngày nay, trong nền kinh tế hiện đại, ở góc độ nhiều hay ít, hầu như đều áp dụng mô hình kinh tế hỗn hợp mà trong đó không thể thiếu vai trò quản lý của Nhà nước.
Theo cách hiểu chung: Quản lý Nhà nước về kinh tế là một bộ phận của quản lý Nhà nước và quản lý nói chung, là một dạng hoạt động phối hợp thực hiện chức năng của hệ thống quản lý Nhà nước nhằm tác động có hiệu quả lên hệ thống bị quản lý (tức là nền kinh tế) thông qua việc sử dụng hệ thống các phương 4 Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn pháp, công cụ, biện pháp quản lý nhằm đạt tới những mục tiêu chiến lược trong từng thời kỳ. Chúng ta có thể hiểu quản lý thương mại là quá trình thực hiện và phối hợp các chức năng hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các hoạt động thương mại trên thị trường trong sự tác động của hệ thống quản lý đến hệ thống bị quản lý nhằm đạt mục tiêu thông qua việc sử dụng các công cụ và chính sách quản lý. Phân loại chính sách thương mại -Theo phạm vi tác động + Chính sách thương mại nội địa , + chính sách thương mại quốc tế -Theo đối tượng tác động chính sách + Chính sách đối với thương nhân + Chính sách đặc thù đối với một số sản phẩm khu vực đặc biệt -Theo cơ chế quản lý + chính sách bảo hộ mậu dịch + Chính sách tự do hóa thương mại -Theo nội dung của chính sách thương mại + Chính sách thị trường + Chính sách thị trường + Chính sách mặt hàng + Chính sách phát triển hạ tầng và công nghệ + Chính sách phát triển các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh 1. Chức năng của quản lý nhà nước về hoạt động xúc tiến thương mại - Chức năng hoạch định: Mục đích của Nhà nước thực hiện chức năng hoạch định để định hướng hoạt động thương mại của các chủ thể tham gia thị trường.
Chức năng này bao gồm các nội dung cơ bản là hoạch định chiến lược, quy hoạch phát triển thương mại, phân tích và xây dựng các chính sách thương mại quy hoạch và định hướng chiến lược phát triển thị trường, xây dựng hệ thống pháp luật có liên quan đến thương mại; xác lập các chương trình, dự án, cụ thể hoá chiến lược, đặc biệt là các lộ trình hội nhập khu vực và quốc tế.Vai trò của chức năng hoạch định là giúp cho các doanh nghiệp có phương hướng hình thành phương án, chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh. Nó vừa giúp tạo lập môi trường kinh doanh, vừa cho phép Nhà nước có thể kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh trên thị trường. 5 Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn - Chức năng phối hợp: Nhà nước bằng việc tạo lập các cơ quan và hệ thống tổ chức, quản lý, sử dụng bộ máy này để hoạch định các chiến lược, quy hoạch, chính sách, các văn bản pháp luật. Đồng thời, sử dụng sức mạnh của bộ máy tổ chức để thực hiện những vấn đề thuộc về quản lý Nhà nước nhằm đưa chính sách và pháp luật vào thực tiễn kinh doanh của doanh nghiệp, hiện thực hoá quy hoạch và kế hoạch.
Với mục đích trên, chức năng phối hợp có vai trò và bao gồm những nội dung là hình thành cơ chế phối hợp hữu hiệu giữa cơ quan quản lý Nhà nước về thương mại với các cơ quan quản lý nhà nước liên quan, với các cấp trong hệ thống tổ chức quản lý thương mại của Trung ương, tỉnh, thành phố.Trong thương mại quốc tế, chức năng này được thể hiện ở sự phối hợp giữa các quốc gia có quan hệ thương mại song phương hoặc trong cùng một khối kinh tế và thương mại, trong nỗ lực nhằm đạt tới các mục tiêu và đảm bảo thực hiện các cam kết. -Chức năng điều tiết các hoạt động thương mại và can thiệp thị trường +Mục đích của chức năng này là nhằm điều tiết các hoạt động thương mại, điều tiết thị trường để các hoạt động này cũng như thị trường phát triển cân đối, hài hoà, bền vững và đúng theo định hướng của Nhà nước.Nội dung và vai trò của chức năng này bao gồm:Nhà nước là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mọi chủ thể kinh doanh, khuyến khích và đảm bảo bằng luật pháp. Nhà nước hướng dẫn và kích thích các doanh nghiệp hoạt động theo định hướng thị trường của mình. Mặt khác, Nhà nước can thiệp và điều tiết thị trường khi cần thiết để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì sức mạnh nền tài chính quốc gia, giữ vững sức mua của tiền tệ, đảm bảo lợi ích của người sản xuất và tiêu dùng.Nhà nước hỗ trợ cho các doanh nghiệp về thông tin, tài chính, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong điều kiện cho phép, không vi phạm các cam kết quốc tế.
Bảo vệ kinh tế Nhà nước theo đúng pháp luật quốc tế, chống tham nhũng và thất thoát tài sản, đảm bảo tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.