chương 1 Qua chương này ta thấy được quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp qua các năm, cơ cấu vốn điều lệ và ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp đang kinh doanh. Ta có thể thấy cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của bộ máy quản trị của doanh nghiệp có phức tạp hay là đơn giản từ đó mà mình điều chỉnh lại cho thật là phù hợp. Ta thấy được tình hình về lao động, thị trường tiêu thụ, mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp. 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH 2.
Khái niệm về phân tích tình hình tài chính: Phân tích, hiểu theo nghĩa chung nhất là sự phân chia, xem xét, nghiên cứu các sự vật và hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa các bộ phận cấu thành đa sự vật và hiện tượng đó. Trên cơ sở, nhận thức được bản chất, tính chất và hình thức phát triển của các sự vật và hiện tượng đang nghiên cứu trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa các sự vật và hiện tượng. Phân tích tình hình tài chính là quá trình phân tích các chỉ tiêu tài chính, qua đó đánh giá tình hình tài chính và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phát hiện những biến động bất thường để đưa ra biện pháp điều chỉnh kịp thời. Mục đích, ý nghĩa, vai trò của phân tích tình hình tài chính 2.1 Mục đích của phân tích tình hình tài chính: Cung cấp thông tin cho những đối tượng có liên quan như những nhà đầu tư, nhà cho vay, thông tin phải mang tính toàn diện dùng cho những người có hiểu biết tương đối về kinh doanh và các hoạt động kinh tế.
Cung cấp thông tin cho các cấp quản lý như: chính phủ, Sở tài chính,… tạo điều kiện cho việc quản lý kinh tế trên tầm vi mô và vĩ mô. Cung cấp thông tin để giúp các nhà đầu tư, các nhà cho vay và những người khác đánh giá các rủi ro, thời hạn của các kết quả đầu tư.2 Ý nghĩa phân tích tình hình tài chính: Hoạt động tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ cung ứng vật tư đến sản xuất tiêu thụ sản phẩm đều ảnh hưởng trực tiếp đến công tác tài chính của đơn vị. Ngược lại, công tác tài chính tốt hay xấu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng, kế hoạch khai thác các yếu tố của quá trình sản xuất, kế hoạch giá thành, việc chuẩn bị một số vốn cần thiết tối thiểu kịp thời là nhiệm vụ hàng đầu của kế hoạch Do đó, kế hoạch tài chính không những có liên quan đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp khác thông qua các công tác thanh toán.
Do vậy việc phân tích tài chính của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố đến phạm vi rộng và phức tạp, đòi hỏi người làm công tác tài chính phải nắm bắt được toàn bộ chế độ chính sách về tài chính. 13 Đồng thời, hiểu sâu sắc tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở mọi thời điểm nhất định. Qua phân tích tài chính chúng ta có thể hiểu được việc tổ chức chu chuyển vốn của doanh nghiệp phục vụ sản xuất có những khó khăn và thuận lợi. Những hợp lý và bất hợp lý cho công tác chu chuyển vốn, xác định vốn ứ đọng và tiết kiệm ở mỗi bộ phận.
Do đó, công tác phân tích tài chính là vô cùng quan trọng.3 Vai trò của phân tích tình hình tài chính: Phân tích tình hình tài chính đóng vai trò quan trọng đối với công ty và các tổ chức bên ngoài, các vai trò này được thể hiện như sau: 2.1Vai trò đối với doanh nghiệp : Phân tích tình hình tài chính giúp các nhà quản trị kiểm tra tình hình tài chính và đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích phân tích tình hình tài chính giúp các nhà quản trị phát hiện các nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình tài chính, đưa ra các biện pháp nhằm duy trì hoặc cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp. Phân tích tình hình tài chính giúp các nhà quản trị lập kế hoạch tài chính đạt hiệu quả.2Vai trò đối với các tổ chức bên ngoài doanh nghiệp: Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có mối quan hệ với các nhà đầu tư chứng khoán, ngân hàng, các nhà cung cấp nguyên vật liệu…… Các tổ chức này thường dựa vào tình hình tài chính của doanh nghiệp, để đưa ra các quyết định về cung cấp các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp,.Vì vậy, phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp giúp các tổ chức theo dõi tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra quyết định có nên cung cấp các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp không hoặc cung cấp với các điều kiện như thế nào.3 Nhiệm vụ của phân tích tình hình tài chính: Qua phân tích tình hình tài chính cho ta đánh giá được khả năng sử dụng và quản lý vốn của doanh nghiệp như thế nào và thấy được khả năng tiềm tàng về vốn của doanh nghiệp. Để từ đó đưa ra các biệp pháp phù hợp và cụ thể hơn.
Nhiệm vụ bao gồm: Đánh giá tình hình sử dụng vốn và nguồn vốn như: xem xét việc phân bổ vốn hợp lý không, xem xét mức độ đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh, phát hiện nguyên nhân thừa thiếu vốn. Đánh giá tình hình khả năng thanh toán của doanh nghiệp,tình hình chấp hành các chế độ,chính sách tài chính,tín dụng của nhà nước. Đánh giá hiệu quả sự dụng vốn 14 Phát hiện khả năng tiềm tàng, đề ra các biện pháp động viên, khai thác khả năng tiềm tàng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Tài liệu, phương pháp dùng để phân tích tình hình tài chính 2.Tài liệu dùng để phân tích tình hình tài chính Bảng cân đối kế toán thông qua số liệu thể hiện trên bảng cân đối.
Kết cấu của bảng cân đối như sau: Phần tài sản: tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn; tài sản cố định và đầu tư dài hạn; Phần nguồn vốn: nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, nội dung của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm: - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ; - Doanh thu hoạt động tài chính; - Thu nhập khác; - Giá vốn hàng bán; - Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp; - Chi phí tài chính; - Chi phí khác; - Lợi nhuận trước thuế; - Thuế thu nhập doanh nghiệp; - Lợi nhuận sau thuế; 2. Phương pháp phân tích tình hình tài chính Phương pháp phân tích tài chính là cách thức, kỹ thuật để đánh giá tình hình tài chính của công ty ở quá khứ, hiện tại và dự đoán tài chính công ty trong tương lai. Từ đó giúp các đối tượng đưa ra các quyết định kinh tế phù hợp với mục tiêu mong muốn của từng đối tượng.
Để đáp ứng mục tiêu của phân tích tài chính, thông thường người ta sử dụng các phương pháp phân tích sau: 2.1 Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích hoạt động kinh doanh. Có ba nguyên tắc cơ bản khi sử dụng phương pháp này, đó là: * Lựa chọn tiêu chuẩn để so sánh. Tiêu chuẩn để so sánh là chỉ tiêu của một kỳ được lựa chọn làm căn cứ để so sánh, tiêu chuẩn đó có thể là: 15 Tài liệu của năm trước (kỳ trước), nhằm đánh giá xu hướng phát triển của các chỉ tiêu. Các mục tiêu đã dự kiến (kế hoạch, dự toán, định mức), nhằm đành giá tình hình thực hiện so với kế hoạch, dự toán, định mức.
Các chỉ tiêu của kỳ được so sánh với kỳ gốc được gọi là chỉ tiêu kỳ thực hiện và là kết quả mà doanh nghiệp đã đạt được. Điều kiện so sánh được. Để phép so sánh có ý nghĩa thì điều kiện tiên quyết là các chỉ tiêu được sử dụng phải đồng nhất. Trong thực tế, thường điều kiện có thể so sánh được giữa các chỉ tiêu kinh tế cần được quan tâm hơn cả là về thời gian và không gian.
+ Về mặt thời gian: là các chỉ tiêu được tính trong cùng một khoảng thời gian hạch toán phải thống nhất trên ba mặt sau: - Phải cùng phản ánh nội dung kinh tế. - Phải cùng một phương pháp phân tích. - Phải cùng một đơn vị đo lường + Về mặt không gian: các chỉ tiêu cần phải được quy đổi về cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự nhau. Tuy nhiên, thực tế ít có các chỉ tiêu đồng nhất được với nhau.
Để đảm bảo tính thống nhất người ta cần phải quan tâm tới phương diện được xem xét mức độ đồng nhất có thể chấp nhận được, độ chính xác cần phải có, thời gian phân tích được cho phép. Kỹ thuật so sánh. Các kỹ thuật so sánh cơ bản là: + So sánh bằng số tuyệt đối: là hiệu số giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện khối lượng quy mô tăng giảm của các hiện tượng kinh tế. + So sánh bằng số tương đối: là thương số giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức phổ biến của các hiện tượng kinh tế.
+ So sánh bằng số bình quân: số bình quân là dạng đặc biệt của số tuyệt đối, biểu hiện tính chất đặc trưng chung về mặt số lượng, nhằm phản ánh đặc điểm chung của một đơn vị, một bộ phận hay một tổng thể chung, có cùng một tính chất. + So sánh mức biến động tương đối điều chỉnh theo hướng quy mô được điều chỉnh theo hệ số của chỉ tiêu có liên quan theo hướng quyết định quy mô chung. Công thức xác định : 16 Mức biến động tương đối = Chỉ số kỳ phân tích - Chỉ tiêu kỳ gốc x Hệ số điều chỉnh Tuỳ theo mục đích, yêu cầu của phân tích, tính chất và nội dung phân tích của các chỉ tiêu kinh tế mà người ta sử dụng kỹ thuật so sánh thích hợp. Quá trình phân tích theo kỹ thuật của phương pháp so sánh có thể thực hiện theo hình thức: - So sánh theo chiều dọc: là quá trình so sánh nhằm xác định tỷ lệ quan hệ tương quan giữa các chỉ tiêu từng kỳ của các báo cáo kế toán-tài chính, nó còn gọi là phân tích theo chiều dọc (cùng cột của báo cáo).