chương 1 giới thiệu khái quát về phân tích kết quả kinh doanh của công ty giai đoạn 2016-2018. 20 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 2.1 Khái niệm, vai trò, mục tiêu, ý nghĩa, sự cần thiết về phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh.1 Khái niệm phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Luật doanh nghiệp (2015) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ rõ bản chất của kinh doanh như sau: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu, đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp, phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Josette Peyrard, 2005). Để đáp ứng nhu cầu quản lý kinh doanh ngày càng cao và phức tạp, phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh được hình thành và ngày càng được hoàn thiện với hệ thống lý luận độc lập (Nguyễn Ngọc Quang, 2008).
Còn theo Nguyễn Thị Mai Hương (2008) thì phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh được sử dụng để chỉ quá trình nghiên cứu toàn bộ hoạt động của một doanh nghiệp với mục đích sinh lợi, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi để đạt được mục đích kinh doanh. Trong đề tài này, tác giả sử dụng định nghĩa của Krishna G. Palepu và cộng sự (2007) làm cơ sở để phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: “Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là quá trình đánh giá kết quả kinh doanh và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đề ra các giải pháp, phương hướng kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp”.2 Vai trò phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Andy Neely (2003) nhận định phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh nhằm nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình kinh tế – tình hình tài chính và nguyên nhân ảnh 21 hưởng đến kết quả của tình hình đó. Kết quả phân tích là cơ sở dự báo, hoạch định chính sách và đưa ra quyết định hoạt động kinh doanh của tất cả các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Sau khi phân tích hiệu quả của hoạt động kinh doanh, việc gắn liền hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp với thực trạng xã hội giúp điều chỉnh mối quan hệ cung – cầu trên thị trường, từ đó doanh nghiệp có thể nhận biết, cải tạo chất lượng sản phẩm, dịch vụ và quy mô hoạt động phù hợp với bối cảnh hiện tại (Guangming Cao và cộng sự, 2007).3 Mục tiêu của phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Theo Ruth SaraAguilar (2004), muốn công tác phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh mang ý nghĩa thiết thực, làm cơ sở tham mưu cho các nhà quản lý đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp thì công tác phân tích hoạt động kinh doanh phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau: Tính đầy đủ: nội dung và kết quả phân tích phụ thuộc rất nhiều vào sự đầy đủ của nguồn tài liệu phục vụ cho công tác phân tích, tính đầy đủ còn thể hiện phải tính toán tất cả các chỉ tiêu cần thiết thì mới đánh giá đúng đối tượng cần phân tích. Tính chính xác: chất lượng của công tác phân tích phụ thuộc rất nhiều vào tính chính xác về nguồn số liệu khai thác, phụ thuộc vào sự chính xác trong việc lựa chọn phương án phân tích, chỉ tiêu dùng để phân tích. Tính kịp thời: sau mỗi chu kỳ hoạt động kinh doanh phải kịp thời tổ chức phân tích, đánh giá tình hình hoạt động, kết quả và hiệu quả kinh doanh đạt được nhằm nắm bắt những mặt mạnh, những hạn chế trong hoạt động kinh doanh, thông qua đó đề xuất những giải pháp kịp thời cho thời kỳ hoạt động kinh doanh tiếp theo có kết quả cao hơn.4 Ý nghĩa và sự cần thiết phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là cơ sở quan trọng để đưa ra các quyết định kinh doanh, giúp các nhà quản lý nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sức mạnh cũng như những hạn chế trong doanh nghiệp của mình, trên cơ sở này, doanh nghiệp sẽ xác định mục tiêu cùng các chiến lược kinh doanh đúng đắn hơn (Andy Neely, 2007). Thông 22 qua quá trình phân tích, doanh nghiệp thấy rõ nguyên nhân cùng nguồn gốc của vấn đề phát sinh và có giải pháp cụ thể để cải tiến cách thức hoạt động và quản lý của doanh nghiệp (Krishna G.
Palepu và cộng sự, 2007). Nghiên cứu của Đỗ Huyền Trang (2012) còn nhấn mạnh phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là cơ sở cho việc kiểm tra, đánh giá hoạt động kinh doanh, đồng thời công tác phân tích đó còn là biện pháp quan trọng trong việc phòng ngừa rủi ro kinh doanh cho doanh nghiệp. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị tác động bởi rất nhiều yếu tố khác nhau (G. Buonanno và cộng sự, 2005).
Theo Chuthamas Chittithaworn (2010), bên cạnh yếu tố bên ngoài, các yếu tố bên trong tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nguồn lao động, cơ sở vật chất, tổ chức hệ thống kinh doanh, công nghệ thông tin, nguồn lực tài chính. Mathew Philip (2010) cho rằng các yếu tố điển hình như môi trường kinh tế, môi trường pháp luật, chính sách nhà nước, cơ sở hạ tầng,… là những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đề tài sẽ lần lượt trình bày sự cần thiết, tầm quan trọng của các yếu tố nêu trên. Các yếu tố bên ngoài Đây là các nhân tố nằm ngoài phạm vi kiểm soát của doanh nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Có thể kể đến một số nhân tố chính như sau: Môi trường kinh tế Môi trường kinh tế là một yếu tố rất quan trọng thu hút sự quan tâm của tất cả các nhà quản trị. Những diễn biến của môi trường kinh tế bao giờ cũng chứa đựng những cơ hội và đe doạ khác nhau đối với từng doanh nghiệp trong các ngành khác nhau và có ảnh hưởng tiềm tàng đến các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp (Phan Thị Minh Lý, 2011). Theo Hunter Taylor (2018) nếu một quốc gia sở hữu một nền kinh tế phồn thịnh thì người tiêu dùng có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn, không chỉ cho những thứ thiết yếu mà còn những thứ lớn hơn. Còn Umar Farooq (2006) cho rằng lượng tiền mà quốc gia 23 đầu tư vào các lĩnh vực dài hạn và khả năng tài chính của người dân tạo nên sự phát triển kinh tế của một đất nước.
Kinh doanh căn bản đáp ứng nhu cầu của một môi trường kinh tế - xã hội có mạnh hay không. Vì thế, trong tất cả các yếu tố thì kinh tế luôn đóng vai trò quan trọng hơn cả, ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh và sự phát triển của doanh nghiệp. Môi trường pháp luật và chính sách nhà nước Pháp luật, chính sách là tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh hay không lành mạnh hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố pháp luật và chính sách quản lý nhà nước về kinh tế.
Việc ban hành hệ thống luật pháp có chất lượng là điều kiện đầu tiên đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải kinh doanh chân chính, có trách nhiệm. Tuy nhiên nếu hệ thống pháp luật không hoàn thiện cũng sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường kinh doanh, gây khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp (Umar Farooq, 2008). Bill Williams (2017) nhận định sự thay đổi trong pháp luật nhà nước làm thay đổi cách thức doanh nghiệp hoạt động. Nội dung của pháp luật, chính sách bao gồm các quy định pháp luật, các biện pháp hạn chế hay khuyến khích đầu tư, kinh doanh đối với hàng hoá, dịch vụ, ngành nghề, địa bàn,.
các biện pháp điều tiết cả đầu vào và đầu ra cũng như toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy, nhà nước, thông qua các luật lệ và chính sách ràng buộc, quy định cách thức các doanh nghiệp hoạt động. Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là phải hiểu rõ tinh thần của luật pháp, chính sách ban hành và chấp hành tốt những quy định đó, nghiên cứu để tận dụng được các cơ hội từ các điều khoản của pháp lý, chính sách mang lại và có những đối sách kịp thời trước những nguy cơ có thể đến từ những quy định pháp luật, tránh được các thiệt hại do sự thiếu hiểu biết về pháp lý trong kinh doanh (Phạm Thu Hương, 2017). Cơ sở hạ tầng Nghiên cứu Wendy A.
Garland (2008) chỉ ra rằng cơ sở hạ tầng là một hệ thống tổ chức các nguồn lực cần thiết cho xã hội hoặc doanh nghiệp để vận hành. Cơ sở hạ tầng được phân loại thành dạng cứng hoặc mềm. Cơ sở hạ tầng cứng bao gồm các hệ thống vật lý cần thiết để vận hành một quốc gia, chẳng hạn như: giao thông, viễn thông, năng 24 lượng, cấp nước và vệ sinh môi trường. Cơ sở hạ tầng mềm đề cập đến các tổ chức duy trì các tiêu chuẩn về sức khỏe, kinh tế và xã hội của một quốc gia, chẳng hạn như giáo dục, tài chính, chính phủ, cấp cứu và hệ thống chăm sóc sức khỏe.
Doanh nghiệp chủ yếu quan tâm đến cơ sở hạ tầng cứng bởi vì nó có tác động trực tiếp; tuy nhiên, cơ sở hạ tầng mềm cũng có tác động thứ cấp và quan trọng không kém. Hạ tầng vận chuyển là yếu tố quan trọng trong cơ sở hạ tầng của một quốc gia quyết định sự thành công trên mọi lĩnh vực kinh doanh. Vì vậy, doanh nghiệp nên tận dụng cơ hội trong sự cải tiến và phát triển không ngừng của cơ sở hạ tầng. Lợi ích kinh tế từ việc xây dựng cơ sở vật chất cao hơn rất nhiều so với chi phí bỏ ra.
Doanh nghiệp phát triển thành công hơn khi cơ sở hạ tầng được đặt vào trọng tâm của mọi hoạt động (Amy Grant, 2017). Các yếu tố bên trong Đây là các nhân tố thuộc về nội tại của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể tác động để phục vụ cho hoạt động kinh doanh.