Chương 1 cũng đã giới thiệu chi tiết cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban trong Công ty. Chương 2 sẽ giới thiệu về cơ sở lý luận về kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh. SVTT: Nguyễn Hiền Thương Page 13 Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp GVHD: Nghiêm Phúc Hiếu CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH 2. Những vấn đề chung về kế toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả kinh doanh 2.
Khái niệm và ý nghĩa : 2. Khái niệm : - Tiêu thụ là quá trình cung cấp sản phẩm cho khách hàng và thu được tiền hàng hoặc được khách hàng chấp nhận thanh toán. Sản phẩm của doanh nghiệp nếu đáp ứng được nhu cầu thị trường sẽ tiêu thụ nhanh, tăng vòng quay vốn, góp phần làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. * Kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm: kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động tài chính và kết quả hoạt động khác.
- Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh : Hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ của các ngành sản xuất kinh doanh chính và sản xuất kinh doanh phụ. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (lãi hay lỗ về tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, cung ứng lao vụ dịch vụ) là số chênh lệch giữa doanh thu thuần với trị giá vốn của hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lí doanh nghiệp. Trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh chỉ tiêu này được gọi là “lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh”. Trong đó: - Kết quả hoạt động tài chính : Hoạt động tài chính là hoạt động đầu tư về vốn và đầu tư tài chính ngắn hạn, dài hạn với mục đích kiếm lời.
Kết quả hoạt động tài chính (lãi hay lỗ từ hoạt động tài chính) là số chênh lệch giữa các khoản thu nhập thuần thuộc hoạt động tài chính với các khoản chi phí thuộc hoạt động tài chính. - Kết quả hoạt động khác: Kết quả hoạt động khác là số chênh lệch giữa các khoản thu nhập khác và các khoản chi phí khác. Ý nghĩa : Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vấn đề mà các doanh nghiệp luôn quan tâm là làm thế nào để hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao nhất (tối đa hoá lợi nhuận và tối thiểu hoá rủi ro); và lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí. Hay nói cách khác, doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lợi nhuận là các chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
Do đó, doanh nghiệp cần kiểm tra doanh thu, chi phí, phải biết kinh doanh mặt hàng nào, mở rộng sản phẩm nào, hạn chế sản phẩm nào để có thể đạt được kết quả cao nhất. Như vậy, hệ thống kế toán nói chung và kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh nói riêng đóng vai trò quan trọng trong việc tập hợp ghi chép các số liệu về tình hình hoạt động của doanh nghiệp, qua đó cung cấp được những thông tin cần thiết giúp cho chủ doanh nghiệp và giám đốc điều hành có thể phân tích, đánh giá và lựa chọn phương án kinh doanh, phương án đầu tư có hiệu quả nhất. SVTT: Nguyễn Hiền Thương Page 14 Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp GVHD: Nghiêm Phúc Hiếu Việc tổ chức công tác kế toán bán hàng, kế toán xác định kết quả kinh doanh và phân phối kết quả một cách khoa học, hợp lý và phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin cho chủ doanh nghiệp, giám đốc điều hành, các cơ quan chủ quản, quản lý tài chính, thuế…để lựa chọn phương án kinh doanh có hiệu quả, giám sát việc chấp hành chính sách, chế độ kinh tế, tài chính, chính sách thuế… 2. Nguyên tắc và thời điểm ghi nhận doanh thu -Trong kế toán việc xác định doanh thu phải tuân thủ nguyên tắc cơ bản là: + Cơ sở dồn tích: Doanh thu phải được ghi nhận vào thời điểm phát sinh, không phân biệt đã thu hay chưa thu tiền.
Do vậy doanh thu bán hàng được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được. + Phù hợp: khi ghi nhận doanh thu phải ghi nhận một khoản chi phí phù hợp. + Thận trọng: Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế. - Doanh thu bán hàng được ghi nhận tuân thủ đầy đủ 5 điều kiện ghi nhận doanh thu quy định tại chuẩn mực kế toán số 14 như sau: + Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua; + Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; + Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; + Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; + Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
- Doanh thu cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn 4 điều kiện ghi nhận doanh thu cung cấp dịch vụ tại chuẩn mực kế toán số 14 như sau: + Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; + Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó; + Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán; + Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó. - Doanh thu hoạt động tài chính được ghi nhận tuân thủ đầy đủ 02 điều kiện ghi nhận doanh thu hoạt động tài chính quy định tại chuẩn mực kế toán số 14 như sau: + Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó; + Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. Đặc điểm kế toán hoạt động kinh doanh thương mại dịch vụ 2. Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ Trong xu hướng phát triển chung của Thế giới hiện nay, dịch vụ là một ngành có tiềm năng và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các quốc gia.
Đối với những nước phát triển thì dịch vụ chính là ngành công nghiệp chủ đạo của họ. Theo thống kê, tỷ trọng dịch vụ trong tổng số sản phẩm quốc gia của các nước phát triển chiếm tỷ lệ cao. Bắt kịp với xu hướng chung của thế giới, Việt Nam cũng đã nhận thức được tầm quan trọng của ngành dịch vụ trong nền kinh tế. Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, dịch vụ - thương mại góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội SVTT: Nguyễn Hiền Thương Page 15 Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp GVHD: Nghiêm Phúc Hiếu quan trọng của đất nước, đặc biệt là khi Việt Nam đã bình thường hóa về thương mại với Hoa Kỳ và gia nhập vào tổ chức Thương mại thế giới WTO.
Khái niệm dịch vụ đã được hình thành từ rất lâu. Các Mác cho rằng dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, một khi nền kinh tế phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông trôi chảy, thông suốt, liên tục, đáp ứng ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển rộng khắp trên các lĩnh vực khác nhau. Như vậy, Các Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và động lực thúc đẩy sự phát triển của dịch vụ. Dịch vụ được coi là lĩnh vực kinh tế thứ ba trong nền kinh tế quốc dân: các hoạt động kinh tế nằm ngoài hai ngành công nghiệp và nông nghiệp đều thuộc ngành dịch vụ.
Muốn phát triển ngành dịch vụ, thì đầu tiên chúng ta phải nắm rõ được bản chất của sản phẩm dịch vụ. Dịch vụ trong kinh tế học, được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa-dịch vu. Dịch vụ có các đặc tính sau: + Tính đồng thời: sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời; + Tính không thể tách rời: sản xuất và tiêu dùng dịch vụ không thể tách rời.
+ Tính chất không đồng nhất: không có chất lượng đồng nhất; + Vô hình: không có hình hài rõ rệt. Không thể thấy trước khi tiêu dùng; + Không lưu trữ được: không lập kho để lưu trữ như hàng hóa được. Đặc điểm giá thành sản phẩm dịch vụ Đặc điểm của hoạt động kinh doanh dịch vụ thương mại là chỉ tính được giá thành thực tế của khối lượng dịch vụ đã thực hiện, tức là khối lượng dịch vụ đã được coi là tiêu thụ. Kỳ tính giá thành có thể là tháng hoặc quý.
Ở các dịch vụ thương mại, chức năng của kế toán là phản ánh và quản lý toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và việc bảo quản, sử dụng tài sản của các doanh nghiệp. - Nhiệm vụ của kế toán các hoạt động kinh doanh chủ yếu trong dịch vụ thương mại được quy định như sau: + Xây dựng quy tắc hạch toán chi phí kinh doanh trên cơ sở các nguyên tắc và phương pháp chung về tính giá thành sản phẩm lao vụ phù hợp với đặc điểm tổ chức kinh doanh, đặc điểm quản lý, yêu cầu và trình độ quản lý của đơn vị. + Ghi chép và phản ánh đầy đủ, chính xác chi phí thực tế phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh cho từng đối tượng tập hợp chi phí và từng đối tượng chịu chi phí. + Xác định chính xác doanh thu và kết quả của toàn đơn vị cũng như của từng hoạt động kinh doanh.
Cung cấp tài liệu phục vụ điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm tra và phân tích hoạt động kinh tế tài chính, phục vụ công tác lập và theo dõi thực hiện kế hoạch, phục vụ công tác thống kê và thông tin kinh tế. Đặc điểm hạch toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh Kết quả hoạt động kinh doanh trong dịch vụ thương mại bao gồm kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động tài chính và kết quả hoạt động khác. Kết quả hoạt động kinh doanh là kết quả của hoạt động về tiêu thụ hàng hoá, lao vụ, dịch vụ.