chương 1 này giúp em hiểu rõ hơn về lịch sử hình thành và phát triển, quy trình hoạt động và đăc biệt là bộ máy tổ chức của công ty. Trong những năm đầu thành lập công ty gặp rất nhiều khó khăn vì đặc thù của doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên sau gần năm năm hoạt động với sự nỗ và cộng tác hết mình của các thành viên. Công ty đã và đang tạo cho mình chỗ đứng nhất đinh trên thị trường.
13 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG Trong tất cả các doanh nghiệp: doanh nghiệp nhà nước, Công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nhgiệp tư nhân, Công ty liên doanh hay doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài….thì để tiến hành sản xuất kinh doanh cần phải có đầy đủ 3 yếu tố đó là: lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Trong 3 yếu tố đó thì lao động có năng suất, chất lượng, hiệu quả là nhân tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tiền lương phải trả cho người lao động trước hết phải phụ thuộc vào số lượng, chất lượng sản phẩm đã làm ra, sau đó là kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.1 Khái niệm và phân loại lao động 2. Khái niệm về lao động: Lao động là quá trình hoạt động trí óc và chân tay của con người nhằm mục đích tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người trong sinh hoạt hàng ngày.2 Phân loại lao động: Căn cứ vào quy mô, quy trình công nghệ và tình hình thực tế của từng doanh nghiệp mà chúng ta có những tiêu thức để phân loại lao động trong một doanh nghiệp.
- Phân loại lao động theo thời gian lao động: + Lao động trong danh sách: Là những lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động dài hạn được ký kết từ 1 năm trở lên. Bao gồm toàn bộ số lao động doanh nghiệp trực tiếp quản lý, sử dụng và trả lương, không kể họ tham gia trực tiếp sản xuất hay gián tiếp sản xuất ra sản phẩm. + Lao động ngoài danh sách: Là những lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động thời vụ, được ký kết dưới 1 năm. Đó là những lao động nhận gia công hay làm khoán một khối lượng công việc cho doanh nghiệp và doanh nghiệp chỉ trả lương khoán theo khối lượng công việc hoàn thành hoặc không trả lương cho họ vì họ làm việc cho doanh nghiệp nhưng đã có tổ chức khác đã trả lương cho họ.
Số lao động doanh nghiệp không quản lý. Tác dụng của việc phân loại lao động này: Cách phân chia loại này giúp cho việc lập kế hoạch lao động, là cơ sở để doanh nghiệp mở sổ sách lao động và theo dõi bồi dưỡng đội ngũ lao động. - Phân loại lao động theo quan hệ với quá trình sản xuất: 14 Lao động trực tiếp (nhân công trực tiếp): Là những người trực tiếp lao động sản xuất tạo ra sản phẩm. Đây là lực lượng chính và chủ yếu của doanh nghiệp như nhân công lao động.
Lao động gián tiếp: Bao gồm cán bộ quản lý, nhân viên quản lý hành chính, nhân viên làm công tác kế toán tài chính, kế hoạch kinh doanh, quản đốc, phó quản đốc, tổ trưởng, nhân viên kiểm tra chất lượng hàng hóa. Tác dụng của phân loại lao động này: Là tạo điều kiện hạch toán chính xác và quản lý chặt chẽ các lao động, tổ chức một cách khoa học các loại lao động phù hợp với yêu cầu thực tế phục vụ sản xuất, nâng cao năng suất lao động và phân bổ chi phí tiền lương vào các đối tượng chịu chi phí một cách chính xác. Khái niệm, ý nghĩa và các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương và các khoản trích theo lương.1 Tiền lương: Khái niệm tiền lương: Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động mà người lao động đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh và được thanh toán theo kết qua lao động cuối cùng. Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp đồng thời cũng là quá trình tiêu hao các yếu tố cơ bản (lao động, đối tượng lao động, tư liệu lao động ).
Lao động với tư cách là hoạt động chân tay và trí óc của con người sử dụng tư liệu lao động nhằm tác động, biến đổi các đối tượng lao động thành các vật phẩm có ích phục vụ cho các nhu cầu trong xã hội. Để đảm bảo tiến hành liên tục quá trình tái sản xuất thì trước hết cần phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động, nghĩa là sức lao động mà con người đã bỏ ra phải được bồi hoàn dưới dạng thù lao lao động Tiền lương chính là phần thù lao lao động được biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động căn cứ vào thời gian, khối lượng và chất lượng công việc của họ, để tái sản xuất sức lao động, bù đắp hao phí lao động của họ trong quá trình sản xuất kinh doanh Về bản chất tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động. Mặt khác tiền lương còn là đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần hăng hái lao động, kích thích và tạo mối quan tâm của người lao động đến kết quả công việc của họ. Nói cách khác tiền lương chính là một nhân tố thúc đẩy năng suất lao động.
Ngoài tiền lương người lao động còn được hưởng các khoản trợ cấp thuộc phúc lợi xã hội, theo quy định của Bộ Tài Chính thì doanh nghiệp còn phải tính các khoản trợ cấp này vào chi phí kinh doanh. Đó là các khoản BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ Ý nghĩa của tiền lương : 15 Tiền lương đảm bảo điều kiện để cải tiến công việc lao đông, đảm bảo an toàn cho người lao động. Xây dựng mức lương và phương thức trả lương phù hợp cho từng đối tượng lao động cụ thể nhằm mục tiêu khai thác tối đa khả năng lao động của người lao động trong doanh nghiệp Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động và nó có ý nghĩa hết sức quan trọng, vừa là một yếu tố chi phí cấu thành nên giá trị các loại sản phẩm, lao động dịch vụ.Do đó việc chi trả tiền lương hợp lý, phù hợp có tác dụng thúc đẩy người lao yêu nghề tận tâm với công việc, động hăng say trong công việc, tăng năng suất lao động, đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật. Các doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả sức lao động nhằm tiết kiệm chi phí tăng tích luỹ cho đơn vi.
Các nhân tố ảnh hưởng tới tiền lương Tất cả mọi lao động đều muốn mình có mức thu nhập từ tiền lương ổn định và khá nhưng thực tế có rất nhiều nhân tố chủ quan cũng như khách quan ảnh hưởng trực tiếp tới tiền lương của họ như một số nhân tố sau: - Do còn hạn chế về trình độ cũng như năng lực. - Do tuổi tác và giới tính không phù hợp với công việc. - Làm việc trong điều kiện thiếu trang thiết bị. - Vật tư, vật liệu bị thiếu hoặc kém phẩm chất.
- Sức khoẻ của người lao động không được bảo đảm. - Làm việc trong điều kiện địa hình và thời tiết không thuận lợi. Các khoản trích theo lương Bao gồm: -Bảo hiểm xã hội. -Bảo hiểm y tế -Bảo hiểm thất nghiệp -Kinh phí công đoàn.
Theo quy định mới nhất thì tổng số trích là 32.5% trong đó: BHXH là 24%, người lao động chịu 7% và DN là 17% BHTN là 2% DN chịu 1% và người lao động chịu1% BHYT là 4.5% DN chịu 3% và người lao động chịu1.5% KPCD là 2% DN chịu 1% và người lao động chịu 1% Như vậy tổng cộng DN chịu 23% tính vào chi phí, còn người lao động chịu 9. Nhưng khi nộp cho cơ quan nhà nước nộp 31. Bảo hiểm xã hội Là khoản tiền hàng tháng người sử dụng lao động và người lao động trong quá trình tham gia sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp đóng cho Quỹ bảo xã hội theo chế 16 độ quy định. Quỹ này dùng vào mục đích trợ cấp cho người lao động trong trường hợp nghỉ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản khó khăn, mất việc, nghỉ hưu…… Theo chế độ hiện hành quỹ BHXH được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ 24% trên tổng tiền lương phải trả cho công nhân viên trong từng kỳ kế toán, trong đó: Người sử dụng lao động phải đóng 17% trên tổng quỹ tiền lương của những người tham gia bảo hiểm xã hội.
17% BHXH này người sử dụng lao động được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong tháng. Người lao động phải chịu 7% trên tổng quỹ luơng bằng cách khấu trừ vào lương của họ. Tiền lương để làm căn cứ đóng BHXH gồm tiền lương theo ngạch chức vụ, hợp đồng và các khoản trợ cấp. Bảo hiểm y tế Là khoản tiền hàng tháng người sử dụng lao động và người lao động trong quá trình tham gia sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp đóng cho Qũy bảo hiểm y tế theo chế độ quy định.
Quỹ này dùng vào mục đích khám chữa bệnh cho người lao động. Quỹ bảo hiểm y tế được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ 4,5% trên tổng tiền lương phải trả cho công nhân viên, trong đó: Người sử dụng lao động phải chịu 3% trên tổng quỹ lương của những người tham gia bảo hiểm xã hội. 3% BHYT này người sử dụng lao động được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong tháng. Người lao động chiu 1,5% bằng cách khấu trừ vào lương của họ.
Tiền lương để làm căn cứ tính BHYT gồm tiền lương theo ngạch chức vụ, hợp đồng và các khoản phụ cấp Toàn bộ 4,5% trích được doanh nghiệp nộp hết cho công ty BHYT hoặc Thành phố. Quỹ này dùng để mua BHYT cho công nhân. Bảo hiểm thất nghiệp: Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được lập ra để trợ cấp cho người lao động trong thời gian họ bị mất việc làm Nguồn tạo lập: trích theo chế độ tài chính cho phép tính vào chi phí 1% trên lương cơ bản và trừ vào thu nhập 1% trên lương cơ bản và các khoản phụ cấp kèm được hưởng. Chế độ quản lý: các doanh nghiệp phải nộp 2% cho cơ quan bảo hiểm xã hội và được cơ quan bảo hiểm cấp thanh toán khi có quyết toán.
17 Kinh phí công đoàn: Là khoản tiền người sử dụng lao động đóng cho cơ quan công đoàn quản lý. Quỹ này dùng vào mục đích phục vụ nhu cầu sinh hoạt, vui chơi, giải trí cho người lao động.