CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ô TÔ. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về sản phẩm ô tô Xe ô tô (xe hơi) là một loại phương tiện giao thông chạy bằng 4 bánh có chở theo động cơ của chính nó. Ô tô có tính cơ động cao và phạm vi hoạt động rộng.
Khái niệm tiêu thụ sản phẩm Tiêu thụ sản phẩm (TTSP) là hoạt động đặc trưng, chủ yếu của các DN thương mại; là khâu cuối cùng của hoạt động SX – KD. Đây là khâu lưu thông hàng hóa, là cầu nối trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng. TTSP được thực hiện thông qua hoạt động buôn bán nhờ đó hàng hóa được chuyển thành tiền, thực hiện vòng chu chuyển vốn trong DN và chu chuyển tiền tệ trong xã hội. Đứng trên góc độ nào đó, TTSP còn được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa hẹp, TTSP như là hoạt động bán hàng đồng nghĩa với việc DN chuyển quyền sở hữu hàng hóa của mình cho khách hàng đồng thời được coi là một quá trình chuyển hoá hình thái giá trị của hàng hoá (H-T). Hiểu theo nghĩa rộng, TTSP là cả một quá trình kinh tế bao gồm từ khâu nghiên cứu nhu cầu trên thị trường, biến nhu cầu đó thành nhu cầu mua thực sự của người tiêu dùng đến việc tổ chức quá trình đưa hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng sao cho có hiệu quả nhất. Tóm lại : Trong nền kinh tế thị trường, TTSP là tổng thể các biện pháp về mặt tổ chức, kinh tế và kế hoạch nhằm thực hiện được mục tiêu bán được sản phẩm với giá cao nhất, chi phí kinh doanh nhỏ nhất và tối đa hoá lợi nhuận. Một số lý thuyết liên quan đến tiêu thụ sản phẩm 1.
Khái quát về sản phẩm ô tô 1. Đặc điểm của sản phẩm ô tô Một chiếc ô tô có đến 20000 - 30000 chi tiết, bộ phận khác nhau. Do sản phẩm có kết cấu phức tạp, hơn nữa yêu cầu về chất lượng sản phẩm cao nên quá trình lắp ráp sản phẩm 8 Luan van đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối bởi vì chỉ cần một sự sai lệch nhỏ cũng có thể ảnh hưởng thị trường, làm giảm uy tín của hãng (phải thu hồi sản phẩm). Đa số các xe hơi 4 bánh trở lên đều sử dụng động cơ đốt trong để tiêu thụ nhiên liệu như xăng, dầu diesel, các nguyên liệu hóa thạch hay nhiên liệu sinh học sản phẩm ôtô có kết cấu phức tạp.
Ô tô là sản phẩm có giá trị rất lớn. Do đặc điểm này nên tại Việt Nam, ôtô được coi là loại hàng hóa tiêu dùng đặc biệt. Ví dụ: xe hơi Honda có giá từ 700 triệu đồng đến 1,8 tỷ đồng, xe hơi Mercedes-Benz có giá từ 700 triệu đồng đến 5,7 tỷ đồng ,…Các sản phẩm ô tô nhập khẩu của công ty có sự đa dạng về chủng loại, phong phú về nhãn mác từ các dòng xe bình dân đến những loại xe hạng sang như Ford, Toyota, Honda, Deawoo, Mitsubishi,…Hơn nữa, ô tô là lĩnh vực đặc thù, nó yêu cầu các ngành dịch vụ phụ trợ như truyền thông, tiếp thị, logistic, … phải có sự "thấu hiểu" để tạo giá trị. Phân loại Thực chất, xe hơi có thể được xếp loại theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau.
Nhưng kiểu phân hạng dưới đây được sử dụng phổ biến nhất, theo Wikipedia: Phân khúc A - xe mini, xe gia đình cỡ nhỏ: Tiêu biểu là Smart Fortwo, Kia Morning,. Xe gia đình cỡ nhỏ thuộc phân khúc này có tốc độ nhanh hơn xe mini, công năng sử dụng cũng thuận tiện hơn. Phân khúc B - xe gia đình cỡ nhỏ: Đó là những Ford Fiesta, Hyundai i20 hay Toyota Yaris quen thuộc trên thị trường Việt Nam. Xe thuộc phân khúc này có 3, 4 hoặc 5 cửa và thiết kế với 4 ghế và đăng ký chở 5 người.
Phân khúc B duy trì tốt lợi thế đi trên phố nhưng cải tiến đáng kể tốc độ trên xa lộ. Phân khúc C - bình dân hạng trung: Đây là loại xe phổ biến nhất trên thế giới bởi nó "vừa đủ" cho tất cả các nhu cầu từ trên phố hay nông thôn. Trong danh mục xe bán chạy nhất thế giới có tên Toyota Corolla, thuộc phân khúc C. Ngoài ra, có thể nhắc tới Ford Focus, Honda Civic và những sản phẩm mới nổi: Kia Forte hay Chevrolet Cruze.
Phân khúc D - xe bình dân cỡ lớn: Đủ chỗ cho 5 người lớn và một khoang chứa đồ rộng, động cơ mạnh hơn xe compact và. Ví dụ như: Ford Mondeo, Toyota Camry, … Phân khúc E - xe hạng sang: Ở châu Âu và một số thị trường, phân hạng E dành cho những mẫu xe được đưa lên hàng sang trọng, bắt đầu từ Audi A4, Mercedes C-class, BMW serie 3 hay Lexus IS. 9 Luan van Phân khúc F - xe hạng sang cỡ lớn: Từ Audi A6, Mercedes E-class, BMW serie 5 hay Jaguar XF có thể thấy xe thuộc phân khúc này thường rộng rãi, có sức mạnh (dung tích động cơ trên 2.000 phân khối) và trang thiết bị sang trọng. Phân khúc S - xe coupe thể thao: Xe thể thao, xe mui trần, roadster (mui trần 2 chỗ) và siêu xe đều thuộc phân khúc này.
Có thể kể đến BMW serie 6, Mercedes CLK, Audi TT, Mazda MX-5, Porsche 911, Ferrari 458 Italia, Lamborghini Gallardo, … Phân khúc M - xe MPV hay minivan: Những chiếc MPV có thể chở tới 8 người. Cao hơn xe gia đình, xe MPV còn tạo tầm quan sát tốt hơn cho tài xế như Toyota Sienna hay Honda Odyssey. Phân khúc J - xe SUV: Có thể vượt qua những địa hình khó với hệ dẫn động 2 cầu, xe SUV thường có khoảng sáng gầm cao với thiết kế thân xe có thế đứng thẳng và kiểu hình hộp vuông vức. Những người thích xe SUV có thể chọn Ford Explorer, BMW X5, Toyota RAV4, Volkswagen Touareg hay Cadillac Escalade EXT.
Vai trò của ô tô trong cuộc sống hiện đại Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của tiến bộ khoa học kỹ thuật, xe hơi ngày càng trở nên phổ biến và thâm nhập sâu hơn vào đời sống kinh tế xã hội toàn cầu. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này. Ô tô là một mặt hàng có tính đặc thù riêng: đặc điểm nổi bật của ô tô là sản phẩm mang giá trị rất cao. Chiếc ô tô từ lâu đã không chỉ được coi là phương tiện đi lại đơn thuần mà các nhà chế tạo không ngừng trang bị cho nó vô số tiện ích khác, khiến ô tô giờ đây như một mái nhà di động, một biểu tượng của giàu có, thịnh vượng, phù hợp với người tiêu dùng có mức sống và thu nhập cao cùng với điều kiện đường xá ở các thành phố lớn.
Đây cũng là một mặt hàng được bảo hộ mạnh của thuế quan. So với vốn đầu tư các mặt hàng khác thì vốn đầu tư vào ô tô lớn hơn rất nhiều. Ngành sản xuất ô tô gắn liền với sự phát triển của khoa học kỹ thuật – 1 ngành phát triển như vũ bão. Chính vì thế đồng vốn bỏ ra đầu tư vào ô tô dù có khả năng sinh lời cao nhưng đi kèm với nó là rất nhiều rủi ro không những chỉ là thu hồi chậm mà còn có thể không thu hồi được nếu không bắt kịp với thời đại.
Thị trường ô tô hiện nay rất sôi động và kinh doanh mặt hàng này đang là nguồn lợi cho rất nhiều công ty. Một số lý thuyết liên quan đến hoạt động TTSP ô tô 1. Nội dung của quá trình tiêu thụ sản phẩm trong DN Tạo lập nguồn hàng 10 Luan van Nghiên cứu thị trường: Thị trường luôn gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, đặc biệt đối với công tác TTSP, nghiên cứu thị trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó quyết định đến hiệu quả TTSP. DN phải nghiên cứu thị trường để tìm ra khả năng thâm nhập và mở rộng thị trường của DN, từ đó xác định khả năng tiêu thụ khi bán một sản phẩm nào đó của DN và xây dựng chiến lược TTSP.
Nghiên cứu thị trường là khâu đầu tiên của quá trình kinh doanh đồng thời là khâu phải thực hiện trong suốt quá trình kinh doanh vì thị trường luôn biến động, DN phải luôn nắm bắt thích ứng với sự biến động đó. Nghiên cứu thị trường nhằm trả lời cho các câu hỏi: Thị trường đang cần những loại sản phẩm gì? Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của nó ra sao? Dung lượng thị trường về sản phẩm đó như thế nào? Đối tượng khách hàng tiêu thụ và cung về sản phẩm đó trên thị trường để DN có những thay đổi định hướng chính sách cho phù hợp. Lựa chọn sản phẩm phù hợp: Từ kết quả công tác nghiên cứu thị trường, DN sẽ quyết định cung cấp những sản phẩm thích ứng ra thị trường trong phạm vi nguồn lực của mình. Đối với các DN sản xuất thì tiến hành tổ chức sản xuất ra sản phẩm thị trường cần về loại đó.
Còn các DN thương mại sẽ tìm nguồn cung ứng sản phẩm để cung cấp ra thị trường. Đây là một nội dung quyết định hiệu quả hoạt động TTSP. Lựa chọn sản phẩm thích ứng, có nghĩa là phải tổ chức sản xuất những sản phẩm mà thị trường đòi hỏi. Sản phẩm thích ứng bao hàm về lượng, chất lượng và giá cả.
Về mặt lượng, sản phẩm phải thích ứng với quy mô thị trường. Về mặt chất lượng sản phẩm phải phù hợp với yêu cầu, tương xứng với trình độ tiêu dùng. Thích ứng về mặt giá cả là giá cả hàng hoá được người mua chấp nhận và tối đa hoá lợi ích người bán. Lựa chọn phương thức tiêu thụ sản phẩm.
Trong nền kinh tế thị trường, việc TTSP được thực hiện bằng nhiều kênh khác nhau, theo đó các sản phẩm vận động từ các DN sản xuất kinh doanh đến tận tay các hộ tiêu dùng cuối cùng. Mặc dù có rất nhiều hình thức tiêu thụ, nhưng đa số các sản phẩm là những máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng.trong quá trình tiêu thụ nói chung đều thông qua một số kênh chủ yếu. DN sản xuất bán trực tiếp các sản phẩm cho các hộ tiêu dùng, bán thông qua các công ty bán buôn của mình và các hãng bán buôn độc lập.