Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN LỰC 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm an toàn và vệ sinh lao động trong lĩnh vực điện lực Một trong số những ngành nghề có mức độ nguy hiểm cao và khả năng gây mất an toàn vệ sinh lao động bậc nhất hiện nay là ngành điện lực. Theo thống kê cho thấy, tỷ lệ người tai nạn lao động trong ngành điện ngày càng cao, hầu hết do thiếu sự hiểu biết trong công tác đào tạo nghề nghiệp.
Điện năng chiếm vai trò quan trọng trong cuộc sống của chúng ta, tuy nhiên nó cũng tồn tại không ít mối nguy hiểm với người lao động trong lĩnh vực này. Theo số liệu thống kê, hàng năm thường xảy ra không ít những vụ tai nạn lao động liên quan đến giật điện, tùy theo từng mức điện áp và cách tiếp xúc tạo ra nguy cơ điện giật nhẹ hoặc nặng, mức độ điện phóng, điện từ trường, mà có thể làm tê liệt hệ hô hấp, tim mạch, thần kinh hoặc gây cháy, bỏng người lao động. Mức độ ảnh hưởng lớn hơn có nguy cơ cháy do chập điện, phóng điện. Bên cạnh đó, số vụ tai nạn trong lao động nặng có thể dẫn đến chết người vẫn tồn tại, bởi lẽ do sự chủ quan và xem thường mức độ nguy hiểm của ngành nghề nên đã dẫn đến sự cố đáng tiếc và hậu quả nặng nề cho gia đình và xã hội.
Một trong những nguyên nhân gây nên tai nạn ngành điện lực chủ yếu là do sơ suất, mất cảnh giác dẫn đến những thao tác sai, công việc xảy ra gián đoạn. Bên cạnh đó, một số cán bộ nhân viên ngành điện lực không trang bị đầy đủ những kiến thức, kỹ năng mềm như chưa tham gia huấn luyện, tập huấn nghiêm túc nên dẫn đến những hậu quả đáng tiếc. Hoặc cũng có thể do trang thiết bị bảo hộ, dụng cụ cách điện chưa tốt không đáp ứng đủ sự yêu cầu của ngành này. 10 Ai cũng biết, ngành điện lực là một trong những ngành nghề tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn vệ sinh lao động bậc nhất.
Theo thống kê cho thấy, tỷ lệ tai nạn lao động nghiêm trọng, tình trạng bị thương do chưa có sự hiểu biết và được trải nghiệm công tác đào tạo an toàn vệ sinh lao động gây ra ngày một tăng cao. Đòi hỏi cần có sự quan tâm đặc biệt hơn nữa của nhà nước, các doanh nghiệp vào công tác an toàn, vệ sinh lao động, đặc biệt đối với ngành điện lực. Theo tác giả luận văn, ATVSLĐ trong ngành điện lực được hiểu là hệ thống những giải pháp về tổ chức, quản lý, kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật mà nhà nước, tổ chức sử dụng lao động và bản thân NLĐ phải thực hiện nhằm ngăn ngừa sự cố tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, ngăn ngừa việc gây thương tích đối với cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động đi đôi với các giải pháp đối phó với những ảnh hưởng từ quá trình lao động có thể làm cho người lao động suy giảm sức khỏe trong ngành điện lực. Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong lĩnh vực điện lực Pháp luật xuất hiện trong mọi mặt của đời sống và là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện việc tổ chức và quản lí xã hội.
Thông qua pháp luật, con người được sống và làm việc trong một môi trường an toàn và có kỷ luật. Vai trò của pháp luật có thể được xem xét ở nhiều góc độ, mức độ, nhiều khía cạnh và nhiều chiều khác nhau. Bất cứ một quốc gia nào cũng cần ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật để nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ cơ bản của con người cũng như sự phát triển của đất nước mình. Theo quy định của pháp luật, ta có thể hiểu tổ chức thực hiện pháp luật là hành vi của chủ thể (hành động hoặc không hành động) được tiến hành phù hợp với quy định, với yêu cầu của pháp luật, tức là không trái, không vượt quá khuôn khổ mà pháp luật đã quy định.
11 Từ sự phân tích và luận giải trên, theo tác giả luận văn có thể hiểu tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong lĩnh vực điện lực là hoạt động và sự phối hợp của cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sản xuất, kinh doanh và người lao động nhằm đảm bảo an toàn, sức khỏe cho người lao động và cộng đồng. Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong lĩnh vực điện lực bao gồm các nội dung chính sau: - Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong lĩnh vực điện lực: + Các luật, nghị định, thông tư, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn điện. + Phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước. - Tổ chức triển khai, hướng dẫn, giám sát, thanh tra việc thực hiện pháp luật: + Các cơ quan quản lý như Bộ Công Thương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
+ Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các đơn vị trực thuộc. + Tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên trong các đơn vị sản xuất, truyền tải, phân phối điện. - Xử lý vi phạm về an toàn, vệ sinh lao động: + Áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính, bồi thường thiệt hại, truy cứu trách nhiệm hình sự. + Ngừng cung cấp dịch vụ đối với người dân doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng về an toàn, vệ sinh lao động.
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về an toàn, vệ sinh lao động: + Đối với người sử dụng lao động, người lao động và các đối tượng liên quan. 12 + Tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật, kiến thức kỹ thuật an toàn. - Tổng công ty Điện lực miền Bắc đã tổ chức triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong lĩnh vực điện lực và triển khai, hướng dẫn, giám sát, thanh tra việc thực hiện pháp luật của các đơn vị trong Tổng công ty đồng thời đã thực hiện tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người lao động theo thông tư nghị định về công tác an toàn, vệ sinh lạo động. Đặc điểm, chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong lĩnh vực điện lực 1.
Đặc điểm tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động Một là, tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong lĩnh vực điện lực mang tính chất khoa học kĩ thuật rõ nét. Các biện pháp nhằm hạn chế, loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại đến sức khỏe người lao động trong môi trường làm việc đều dựa trên những cơ sở khoa học- tự nhiên và được thực hiện bằng các giải pháp kinh tế. Nó bao gồm các hoạt động điều tra, kiểm soát điều kiện lao động; phân tích, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm, có hại đối với người lao động; giải quyết xử lý điều kiện, môi trường lao động; ban hành các tiêu chuẩn kĩ thuật về an toàn, vệ sinh lao động đối với từng ngành nghề, lĩnh vực; cải tiến trang thiết bị kĩ thuật, công nghệ sản xuất… Do đặc thù nói trên nên phần lớn các quy định điều chỉnh hoạt động an toàn vệ sinh lao động, vệ sinh lao động cũng mang tính chất khoa học- kĩ thuật. Như vậy, tính khoa học và tính pháp lý sẽ cùng tồn tại trong rất nhiều quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
Các quy định về tiêu chuẩn ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm không khí, độ ồn, độ rung, nồng độ bụi tối đa trong môi trường làm việc…. là những quy định thể hiện kết quả cuối cùng của việc 13 nghiên cứu các yếu tố khoa học- kĩ thuật, sinh học trong môi trường làm việc và sự ảnh hưởng của nó đến sức khỏe của người làm việc trong môi trường tương ứng. Với việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chuyển hóa các kết quả này thành các quy định có tính quy phạm về an toàn vệ sinh lao động, vệ sinh lao động trong các văn bản pháp luật có hiệu lực bắt buộc chung trong phạm vi toàn quốc hoặc trong phạm vi từng ngành đã cho thấy tính khoa học kĩ thuật là một trong những đặc điểm riêng biệt của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động, vệ sinh lao động so với các chế định pháp luật lao động khác. Một trong những khía cạnh quan trọng của công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động, vệ sinh lao động là ban hành và quản lý thống nhất hệ thống quy phạm, tiêu chuẩn kĩ thuật về an toàn, vệ sinh lao động.
Theo quy định hiện hành, các bộ ngành chức năng có trách nhiệm phối hợp với nhau trong việc ban hành và quản lý thống nhất hệ thống tiêu chuẩn, quy phạm về an toàn vệ sinh lao động, vệ sinh lao động. Về hình thức, các quy định, tiêu chuẩn về an toàn- vệ sinh lao động chứa đầy đủ những yếu tố của một quy phạm pháp luật (như tính bắt buộc chung). Bên cạnh đó, về nội dung còn chứa đựng những yêu cầu về mặt kĩ thuật nghiêm ngặt dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học về an toàn, vệ sinh lao động. Những quy chuẩn này (150 loại )có thể được áp dụng ở cấp Nhà nước hoặc cấp ngành nhằm mục đích hạn chế, ngăn ngừa các bệnh nghề nghiệp trong quá trình lao động.
Đối tượng quản lý về ATVSLĐ của Luật an toàn, vệ sinh lao động là các loại máy, thiết bị, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động trong cả nước. Trước đây, các thiết bị, máy móc trên được quản lý theo tiêu chuẩn do Nhà nước ban hành, hiện nay những quy phạm an toàn thường mang tên gọi chung là “ tiêu chuẩn Việt Nam”. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc ban hành các “tiêu chuẩn Việt Nam” nhưng do điều kiện về kinh phí hạn chế (3-5 triệu/1 Tiêu chuẩn Việt Nam), chịu ảnh hưởng 14 của hệ thống tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động của Liên Xô cũ. một số tiêu chuẩn đã cũ, nội dung đã lạc hậu không phù hợp với khu vực và quốc tế như các quy phạm về an toàn vệ sinh lao động trong hầm lò than, điện lực, nồi hơi, các thiết bị nóng.cần được xem xét lại tiêu chuẩn và ban hành tiêu chuẩn mới phù hợp.