Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ LĨNH VỰC AN TOÀN LAO ĐỘNG 1.1 Vi phạm hành chính về lĩnh vực an toàn lao động 1.1 Khái niệm, đặc điểm chung của xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực an toàn lao động “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”8 Vi phạm hành chính lĩnh vực an toàn lao động là hành vi vi phạm quy định an toàn lao động thuộc các hành vi không chấp hành, chấp hành không đúng hoặc không đầy đủ các quy định của pháp luật lao động về an toàn lao động (như không trang bị thiết bị bảo hộ lao động, không áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết khi lao động trong môi trường nguy hiểm, độc hại.2 Dấu hiệu của vi phạm hành chính về lĩnh vực an toàn lao động. Các dấu hiệu của vi phạm hành chính về lĩnh vực an toàn lao động - Hành vi hành động hoặc không hành động Tương tự những hành vi vi phạm pháp luật các lĩnh vực khác thì vi phạm hành chính về an toàn lao động trước hết phải thể hiện bằng hành vi thông qua hành động tức là hành vi vi phạm hành chính pháp luật an toàn lao động, bao gồm các hành vi như các hành vi vi phạm quy định pháp luật lĩnh vực an toàn lao động, có hành vi vi phạm báo cáo, vi phạm đánh giá hậu quả sau khi xảy ra tai nạn lao động… Hành vi không hành động là những hành vi không chấp hành các quy định an toàn lao động, trang bị các thiết bị an toàn trong lao động, các điều kiện cần thiết trong lao động, các hành vi không chấp hành hoặc cản trở hoạt động 8 Trích dẫn từ Điều 12 Khoản 1 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. 17 quản lý Nhà nước, thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính và các hành vi vi phạm khác về an toàn lao động Khi đánh giá một hành vi được xem là hành vi trái quy định pháp luật an toàn lao động dựa trên những căn cứ vào những quy định của pháp luật an toàn lao động đã được thống nhất và ban hành, cũng như những đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về việc quản lý lĩnh vực an toàn lao động. Nếu một chủ thể thực hiện một hoặc nhiều những hành vi mà pháp luật lao động nghiêm cấm hay không làm những việc mà pháp luật lao động yêu cầu phải làm, thì có thể coi chủ thể đó có hành vi trái pháp luật lao động và phải chịu các chế tài tương ứng với hành vi vi phạm pháp luật đó.
Hành vi vi phạm pháp luật an toàn lao động khi được xem là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ những quy định của pháp luật an toàn lao động. Các hành vi vi phạm pháp luật an toàn lao động được biểu hiện dưới dạng hành động trực tiếp hoặc không hành động trực tiếp. - Hành vi trái quy định của pháp luật về lĩnh vực an toàn lao động Hành vi trái quy định của pháp luật về lĩnh vực an toàn lao động gây ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự ổn định của Xã hội và gây tổn hại đến các chủ thể trong mối quan hệ lao động. Việc tuân thủ và chấp hành các quy định pháp luật an toàn lao động một cách lệch lạc mà không đúng, không đủ dẫn đến việc vi phạm pháp luật, vi phạm đến những đặc điểm mà các quy định pháp luật đó bắt buộc phải làm hoặc làm điều mà pháp luật không cấm được đặt ra trong các văn bản pháp luật lĩnh vực an toàn lao động.
Còn có hành vi cố ý tạo kẽ hở từ pháp luật an toàn lao động để vi phạm nhằm kiếm các thu nhập bất chính cho chính bản thân mình, không quan tâm đến lợi ích và tính mạng, sức khỏe của người lao động, trật tự ổn định của Xã hội. Căn cứ một hành vi vi phạm pháp luật an toàn lao động thì phải căn cứ các quy định của pháp luật an toàn lao động đặt ra, cũng như những chính 18 sách của các cá nhân và tổ chức có thẩm quyền trong công tác quản lý lĩnh vực an toàn lao động đã được thống nhất và ban hành. Các cá nhân và tổ chức có hành vi không chấp hành các quy định của pháp luật an toàn lao động thì các hành vi đó của các cá nhân, tổ chức đó là hành vi vi phạm quy định hành chính pháp luật an toàn lao động. Những hành vi có liên quan đến việc vi phạm các quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc những vi phạm xuất phát từ những sự kiện bất khả kháng của từng trường hợp cụ thể của các cá nhân, tổ chức vi phạm thì sẽ không bị xem là vi phạm pháp luật an toàn lao động Mức độ vi phạm sẽ được căn cứ cụ thể vào hành vi vi phạm trên thực tế của cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật an toàn lao động; Còn yếu tố lỗi được căn cứ vào mục đích cần đạt được của hành vi vi phạm đó và yếu tố lỗi làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lý mà không cần xem xét các yếu tố khác kèm hậu quả mà thiệt hại thực tế xảy ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thiệt hại do hành vi vi phạm hành chính pháp luật an toàn lao động được đặt ra nhằm điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp từ trong quá trình quan hệ lao động giữa các bên.
Yếu tố lỗi là một trạng thái tâm lý, thể hiện ý chí chủ quan của cá nhân, tổ chức đối với hành vi vi phạm pháp luật an toàn lao động và hành vi đó gây ra hậu quả. Trong vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm hành chính lĩnh vực an toàn lao động nói riêng thì có thể xem “lỗi” là yếu tố quan trọng về mặt chủ quan của hành vi vi phạm đó. Yếu tố lỗi được chia thành hai loại cơ bản là lỗi cố ý và lỗi vô ý. Trong đó, lỗi cố ý được chia thành lỗi cố ý vi phạm trực tiếp và lỗi cố ý vi phạm gián tiếp; lỗi vô ý cũng được chia thành hai loại đó là lỗi vô ý xuất phát từ chủ quan và lỗi vô ý xuất phát từ hành vi bất cẩn gây ra thiệt hại.
Các cá nhân, tổ chức không nhận thức được hành vi vi phạm của mình thì 19 sẽ căn cứ từ yếu tố lỗi một cách chính xác từ những vi phạm cụ thể, sẽ xác định được chính xác các hình thức áp dụng xử phạt phù hợp nhất đối với từng hành vi vi phạm pháp luật an toàn lao động đó. - Hành vi vi phạm được thực hiện khi các cá nhân, tổ chức có đầy đủ năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện. Các cá nhân phải có đầy đủ năng lực trách nhiệm pháp lý khi có hành vi vi phạm thì đó là dấu hiệu để làm căn cứ xác định mức độ vi phạm. pháp luật quy định.
Do đó, các cá nhân, tổ chức vi phãm mà bị các bệnh tâm thần, không đủ năng lực hành vi thì có thể xem xét, đánh giá thông qua giám định sức khỏe để đưa ra quyết định cuối cùng. Các cá nhân, tổ chức phải nhận thức được khả năng hành vi đó gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội và kéo theo hậu quả pháp lý của nó. Do đó cá nhân, tổ chức phải chịu các trách nhiệm pháp lý tương ứng với lỗi vi phạm pháp luật an toàn lao động của mình. Căn cứ dựa trên các dấu hiệu vi phạm thì các cơ quan quản lý an toàn lao động có thể xác định được hành vi vi phạm đó.3 Các loại vi phạm hành chính về lĩnh vực an toàn lao động “Căn cứ vào Điều 19 cho đến Điều 26 - Nghị định 28/2020/NĐ-CP.
quy định như sau: + Vi phạm quy định về báo cáo công tác an toàn lao động + Vi phạm quy định về các biện pháp đảm bảo an toàn lao động. + Vi phạm quy định về phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. + Vi phạm quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. + Vi phạm quy định về sử dụng máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động.
+ Vi phạm quy định về hoạt động huấn luyện an toàn lao động + Vi phạm quy định về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động. 20 + Vi phạm quy định về quan trắc môi trường lao động.2 Xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực an toàn lao động 1.1 Khái niệm và đặc trưng của xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực an toàn lao động 1. Khái niệm Xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực an toàn lao động là việc cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thuộc các cơ quan Nhà nước căn cứ vào quy định của pháp luật để xem xét và giải quyết đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn lao động do các cá nhân, tổ chức thực hiện các hành vi vi phạm hành chính lĩnh vực an toàn một cách cố ý hay vô ý bị áp dụng các hình thức, biện pháp xử phạt hành chính đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm đó. Đặc trưng của xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực an toàn lao động Thứ nhất, căn cứ pháp lý để các chủ thể có thẩm quyền sử dụng khi xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực an toàn lao động là các quy chuẩn an toàn lao động.
Căn cứ pháp lý để tiến hành mọi hoạt động hướng đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn lao động đó chính là các quy chuần và quy định về an toàn lao động do Nhà nước quản lý ban hành .