CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Ngân hàng và các hoạt động cơ bản - Ngân hàng là một định chế tài chính quan trọng nhất trong các tổ chức tài chính của nền kinh tế. Có nhiều loại ngân hàng khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của mỗi nền kinh tế và hệ thống tài chính của mỗi quốc gia khác nhau.
Trong đó, ngân hàng thương mại là tổ chức cung ứng vốn cho nền kinh tế với tỷ trọng lớn nhất. Hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay chiếm thị phần lớn về quy mô tài sản, tín dụng, huy động và thanh toán cũng như số lượng trong hệ thống các tổ chức tín dụng. Theo Luật các TCTD năm 2010 [12]: Ngân hàng thương mại được định nghĩa là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập các dịch vụ quản lý quỹ cho công chúng và doanh nghiệp, đồng thời cũng thực hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế, một ngân hàng thương mại có những hoạt động cơ bản sau: 1. Hoạt động huy động vốn Nguồn vốn hoạt động của ngân hàng thương mại được tạo lập từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó, huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn 8 chiếm tỷ trọng lớn nhất cho ngân hàng thương mại (chiếm khoảng 70% - 80% tổng nguồn vốn của ngân hàng, đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả, chất lượng hoạt động của ngân hàng. Huy động vốn với mục tiêu tìm kiếm nguồn vốn ổn định có chi phí thấp nhất. Nguồn vốn của ngân hàng được tạo lập dưới các hình thức sau: - Vốn chủ sở hữu: Trước khi bắt đầu hoạt động, được pháp luật cho phép, chủ ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định.
Đây là nguồn vốn tối thiểu của chính ngân hàng tạo lập, chiếm tỷ trọng nhỏ, chỉ khoảng 5 - 10% trong tổng nguồn vốn của ngân hàng nhưng có là điều kiện tiên quyết cho sự hình thành và phát triển của ngân hàng. - Vốn huy động từ tiền gửi của khách hàng (Tổ chức kinh tế và cá nhân): là nguồn vốn mà ngân hàng huy động được từ khách hàng thông qua việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng. Vốn huy động rất đa dạng về nguồn gốc hình thành, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn. - Vốn đi vay: Nguồn vốn này thương chiếm tỷ trọng khoảng 15% - 17%.
Đây là nguồn vốn mà ngân hàng dựa trên quan hệ vay mượn, với các tổ chức tín dụng khác, gồm: Vay ngân hàng trung ương, vay các ngân hàng thương mại, các tổ chức quốc tế,. - Nguồn vốn khác: Nguồn vốn này bao gồm nhận ủy thác, vốn trong thanh toán, các nguồn khác. Hoạt động sử dụng vốn Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng tiến hành các hoạt động cho vay, cho thuê, đầu tư, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính. nhằm mục đích sinh lợi.
Trong đó, cho vay là hoạt động cốt lõi chiếm khoảng 70% - 80% tài sản của ngân hàng, tạo ra khoảng 70% - 80% thu nhập cho ngân hàng. Tuy vậy, đây cũng chính là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì thế ngân hàng thường phải có những biện 9 pháp nghiên cứu và phòng chống các rủi ro có thể xảy ra. Các hoạt động khác Bên cạnh các nhóm hoạt động cơ bản trên, các ngân hàng thương mại còn thực hiện dịch vụ thanh toán và không ngừng khai thác các dịch vụ tài chính mới như tư vấn, ủy thác, bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng đại lý.Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ này không ngừng tăng lên đáng kể. Hiện nay, trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt thì việc đa dạng hóa nhiều sản phẩm, dịch vụ phủ hợp với xu thế của thị trường để thu hút khách hàng và nâng cao uy tín luôn là mục tiêu được chú trọng trong các ngân hàng.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng của ngân hàng Tín dụng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Đối tượng cho vay chủ yếu là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân với mục đích sử dụng vốn tín dụng cho các hoạt động sản’xuất kinh doanh và tiêu dùng. Đặc điểm tín dụng của ngân hàng - Về hình thức biểu hiện: Hoạt động tín dụng của ngân hàng thể hiện dưới hình thái tiền tệ gồm tiền mặt và bút tệ. Do đặc tính về lĩnh vực ngành nghề kinh doanh, để tập trung lượng vốn lớn từ nhiều chủ thể cũng như phân phối, đáp ứng nhu cầu về vốn cho các chủ thể kịp thời và đầy đủ, ngân hàng vận dụng vốn dưới hình thái tiền tệ để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình - Chủ thể trong quan hệ cho vay của ngân hàng: Ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng đóng vai trò là chủ thể trung tâm, ngân hàng vừa thể 10 hiện vai trò là chủ thể đi vay trong khâu huy động, vừa thể hiện vai trò là chủ thể cho vay trong khâu phân phối cho vay.
TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân - Tín dụng kháchhàng cá nhân là hình’thức tài’trợ của ngân’hàng cho các khách hàng là cá nhân» và hộ gia đình, là quan hệ kinh tế mà trong đó ngân hàng chuyển cho các cá nhân quyền sử dụng một khoản tiền với những điều kiện nhất định đuợc thoả thuận trong hợp đồng nhằm phục vụ mục đích của khách hàng. Đặc điểm tín dụng khách hàng cá nhân Tín dụng KHCN có một số đặc điểm riêng khác so với các loại hình cho vay khác nhu sau: Đối tượng cho vay : là cá nhân và các hộ gia đình. Quy mô khoản vay: Quy mô của một khoản vay tuơng đối nhỏ so với tài sản của ngân hàng nhung số luợng các khoản vay lại rất lớn do đối tuợng của cho vay là các cá nhân và các hộ gia đình với số luợng nhiều và nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng.
Vì vậy, cho vay KHCN đáp ứng nhu cầu của cá nhân và các hộ gia đình nhằm mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ. » [4] Lãi suất cho vay: Các hợp đồng cho vay bán lẻ có lãi suất đầu ra thuờng cao hơn lãi suất cho vay của các hợp đồng cho vay khác nên mang lại lợi nhuận cao hơn cho các NHTM. Ngoài ra, ngân hàng có thể bán đuợc các sản phẩm dịch vụ khác đi kèm theo hoạt động cho vay bán lẻ nhu dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ thẻ, tu vấn tài chính v.; Lãi suất cho vay KHCN thuờng cao hơn lãi suất các khoản cho vay khác của NHTM do quy mô của các khoản vay thuờng nhỏ (trừ những khoản cho vay để mua bất động sản), nên chi phí để cho vay (về thời gian, nhân lực đi thẩm định, quản lý các khoản cho vay này) cao đồng thời rủi ro của các khoản vay này cũng rất cao. Từ truớc đến 11 nay, cho vay KHCN vẫn được các ngân hàng coi là khoản mục mang lại lợi nhuận khá cao bởi lãi suất cao do mức độ rủi ro của khản vay.
Rủi ro đối với cho vay KHCN: Cho vay KHCN có thể phân tán được rủi ro khi có sự cố cho vay xảy ra, đối với cho vay cá nhân thì số tiền cho vay được chia ra cho nhiều khách hàng khác nhau, vì thế rủi ro cũng sẽ được phân tán bớt. Mục đích vay: Mục đích vay vốn của khách hàng cá nhân nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân, hộ gia đình. Khi nền kinh tế có sự tăng trưởng cao và ổn định, KHCN sẽ có thái độ lạc quan hơn về tương lai, họ kỳ vọng sẽ có khoản thu nhập nhiều hơn trong tương lai và do vậy sẽ thúc đẩy sự chi tiêu cho tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh ở hiện tại. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái người dân thường có xu hướng giảm tiêu dùng, giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thay vào đó là sẽ tăng cường tiết kiệm và hạn chế vay mượn từ Ngân hàng.
Do đó, nhu cầu vay vốn phụ thuộc vào tâm lý khách hàng và chu kỳ kinh tế của người đi vay. Mức thu nhập và trình độ dân trí là hai nhân tố tác động rất lớn đến nhu cầu vay của khách hàng. Nhu cầu vay của khách hàng thường kém nhạy cảm với lãi suất, thông thường người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu. Hạn mức cho vay KHCN: là số tiền tối đa mà ngân hàng cho khách hàng vay.
Hạn mức cho vay KHCN được xác định dựa trên các yếu tố như: nhu cầu vốn của khách hàng, số vốn tự có của khách hàng, giá trị của tài sản đảm bảo. Nhược điểm của cho vay cá nhân: Hồ sơ vay vốn rất nhiều, do đó các NHTM thường mất nhiều thời gian và công sức thẩm định, ra quyết định cho vay và quản lý theo dõi khoản vay, thu hồi nợ vay; Một số sản phẩm của cho vay cá nhân (cho vay tiêu dùng đối với khách hàng là cán bộ, công nhân viên không 12 có đảm bảo bằng tài sản, cho vay kinh doanh chứng khoán, kinh doanh vàng .