MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một trong những nước có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chè phát triển. Cây chè cho năng suất sản lượng tương đối ổn định và có giá trị cao về kinh tế, tạo việc làm cũng như thu nhập cho người dân hằng năm, đặc biệt là các tỉnh trung du và miền núi, với ưu thế là một cây công nghiệp dễ khai thác, nguồn sản phẩm đang có nhu cầu về xuất khẩu và tiêu dùng trong nước, thì cây chè đang được coi là cây công nghiệp có thế mạnh trong khu vực trung du và miền núi. Cây chè được trồng nhiều ở các tỉnh trung du miền núi phía bắc như: Sơn La, Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên, Tuyên Quang.
Ở Lai Châu cây chè đã và đang được chú trọng phát triển, đang mang lại hiệu quả kinh tế cao, là cây xóa đói, giảm nghèo cho các hộ nông dân. Ở huyện Tân Uyên do có các đặc điểm về điều kiện tự nhiên thích hợp với cây chè nên trong những thập kỷ qua cây chè cũng được chú trọng đầu tư phát triển. Huyện Tân uyên đã và đang có các chủ chương, chính sách nhằm đẩy mạnh công tác trồng và chăm sóc chè. Ở đây đã và đang có các doanh nghiệp và công ty cổ phần trà được thành lập và phát triển trên địa bàn, với diện tích chè lớn như vậy thì khả năng đáp ứng nhu cầu về chè nguyên liệu cho địa phương, cho thị trường xuất khẩu là không đủ.
Do đó, cần phải nâng cao năng xuất sản xuất cho cây chè. Đứng trước tính cấp bách của thị trường hiện nay Công Ty Cổ Phần Trà Than Uyên là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc trên địa bàn huyện Tân Uyên, Tỉnh Lai Châu. Với bề dày lịch sử hình thành từ năm 1971 cho đến nay công ty cũng đã có nhiều thành tựu, trước sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp khi nền kinh tế nước ta đang hội nhập với kinh tế thế giới, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có chiến lược và cách thức kinh doanh linh hoạt để nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cho mình. h 2 Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, em tiến hành thực hiện khóa luận: “Tìm hiểu tình hình sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần trà Than Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu”.
Với mong muốn sẽ là cơ sở để góp phần đánh giá đúng tình hình sản xuất, và thấy rõ được các mặt tồn tại để từ đó đưa ra các giải pháp phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè của công ty. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá được đầy đủ, chính xác tình hình sản xuất và kinh doanh chè của Công Ty Cổ Phần Trà Than Uyên. Qua đó đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất chè của Công Ty Cổ Phần Trà Thanh Uyên.
Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất cây chè. - Phân tích được tình hình sản xuất và kinh doanh của công ty chè… - Phân tích thuận lợi và khó khăn trong hoạt động sản xuất và kinh doanh của công ty cổ phần trà Than Uyên. - Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của Công Ty Cổ Phần Trà Thanh Uyên. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong khoa học - Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp sinh viên vận dụng được những kiến thức mà sinh viên tiếp thu được trong quá trình học tập tại trường và có vai trò rất quan trọng đối với người thực hiện đề tài. - Giúp bản thân vận dụng kiến thức đã được học vào thực tế. - Nhằm nâng cao tinh thần học hỏi, tìm tòi, phát huy tính tự giác chủ động trong hoạt động nghiên cứu. - Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo nghiên cứu và học tập cho các khóa sau.
h 3 - Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập, xử lí thông tin kỹ năng nghề nghiệp. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp một phần vào việc đánh giá sát thực hơn về cách thức phát triển sản xuất chè trên địa bàn nghiên cứu. Cung cấp nguyên liệu có chất lượng cao, tạo ra sản phẩm có chất lượng nhằm đáp ứng cho nhu cầu của thị trường hiện nay. Giúp cho các nhà lãnh đạo có căn cứ để xây dựng chính sách phát triển cây chè trên địa bàn nghiên cứu.
Đề ra phương hướng để nâng cao hiệu quả kinh tế của cây chè đem lại cho Công Ty Cổ Phần Trà Than Uyên nói riêng và trên địa bàn nghiên cứu nói chung. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Một số khái niệm cơ bản * Sản xuất Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người.
Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm?.[11] * Sản phẩm Sản phẩm là kết quả đạt được từ quá trình sản xuất, nó là đầu ra chính của quá trình sản xuất. Sản phẩm là mục đích cần đạt được từ sản xuất. Là bất cứ cái gì có thể đưa vào thị trường để tạo sự chú ý, mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng nhằm thỏa mãn một nhu cầu hay ước muốn.
Nó có thể là những vật thể, dịch vụ, con người, địa điểm, tổ chức và ý tưởng. * Hàng hóa Hàng hoá là sản phẩm của lao động, nó có thể thoả mãn những nhu cầu nhất định nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán. Hai thuộc tính của hàng hóa: Giá trị sử dụng và giá trị. - Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của hàng hóa có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, không kể nhu cầu đó được thỏa mãn trực tiếp hay gián tiếp.
- Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa.[15] h 5 * Tiêu thụ Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tiêu thụ sản phẩm là thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá, là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng. Nó là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian giữa một bên là sản xuất và phân phối và một bên là tiêu dùng. Thích ứng với mỗi cơ chế quản lí, công tác tiêu thụ sản phẩm được quản lí bằng các hình thức khác nhau.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định ba vấn đề quan trọng của sản xuất nên việc tiêu thụ sản phẩm cần được hiểu theo cả nghĩa rộng và cả nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu khách hàng, đặt hàng và tổ chức sản xuất đến việc tổ chức các nghiệp vụ tiêu thụ, xúc tiến bán hàng nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất. Theo nghĩa hẹp, tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ là việc chuyển dịch quyền sở hữu sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã thực hiện cho khách hàng đồng thời thu được tiền hàng hoá hoặc được quyền thu tiền bán hàng.[12] * Phát triển sản xuất Phát triển sản xuất là quá trình nâng cao khả năng tác động của con người vào các đối tượng sản xuất, thông qua các hoạt động nhằm tăng quy mô về số lượng, đảm bảo hơn về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ đời sống ngày càng nâng cao đời sống của con người. * Kênh phân phối Kênh phân phối là một nhóm các tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng.
Các kênh phân phối tạo nên dòng chảy sản phẩm từ người sản xuất đến người mua cuối cùng. Tất cả những tổ chức, cá nhân tham gia vào kênh phân phối được gọi là các thành h 6 viên của kênh. Những thành viên nằm giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng (nếu có) được gọi là các trung gian phân phối. Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè Cây chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt và trong đời sống kinh tế, văn hóa của con người.
Sản phẩm chè hiện nay đang được tiêu dùng khắp các nước trên thế giới. Ngoài tác dụng giải khát, chè còn có tác dụng khác như kích thích hệ thần kinh làm cho thần kinh minh mẫn, tăng cường hoạt động của cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, tăng sức đề kháng cho cơ thể của con người. Ở Việt Nam sản phẩm chè không chỉ để tiêu dùng nội địa mà còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng để thu ngoại tệ góp phần xây dựng đất nước, đối với người dân thì chè mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định, cải thiện đời sống kinh tế văn hóa xã hội, tạo ra công ăn việc làm cho bộ phận lao động dư thừa ở vùng nông thôn. Nếu so sánh cây chè với các loại cây trồng khác thì cây chè có giá trị kinh tế cao hơn hẳn, vì cây chè có thể sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm liên tục.
Cây chè là cây trồng thích hợp với các vùng trung du và miền núi, cây chè là cây trồng không tranh chấp đất đai với cây lương thực. Chính vì vậy, cây chè không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao mà còn góp phần cải thiện môi trường, phủ xanh đất trống, đồi trọc. Trồng chè kết hợp với trồng rừng theo phương thức Nông – Lâm kết hợp sẽ tạo nên được một vành đai xanh chống được xói mòn, rửa trôi đất. Như vậy, phát triển sản xuất chè đã và đang tạo ra một lượng của cải vật chất lớn cho xã hội, làm tăng thu nhập cho người dân.
Cải thiện mức sống cho người dân ở khu vực nông thôn. Tạo điều kiện cho việc thúc đẩy công cuộc xây dựng đất nước theo hướng Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa, làm giảm sự chênh lệch về kinh tế giữa các khu vực thành thị với nông thôn, giữa vùng đồng bằng với vùng miền núi.