MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập Việt Nam là một nước nông nghiệp với trên 70% dân số và lao động sống ở nông thôn. Ngành nông nghiệp là ngành có vị trí vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Nhiệm vụ của nông nghiệp là sản xuất lương thực, thực phẩm và nông sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội, đặc biệt trong đó có sản xuất rau.(1) Rau xanh là một loại thực phẩm quan trọng, cần thiết cho cơ thể con người và không thể thay thế được.
Rau đều góp mặt trong những bữa cơm của mọi gia đình, nó cung cấp nhiều vitamin và chất khoáng.cần thiết cho sự phát triển của con người. Cùng với sự phát triển của đất nước, thị trường càng phát triển, đời sống của người dân được nâng cao thì nhu cầu về chủng loại và chất lượng thực phẩm càng được tăng lên. Trong tình hình phát triển như vậy thì phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm sạch, an toàn là vấn đề có tính cấp thiết vì sự phát triển kinh tế, xã hội, môi trường và sức khỏe của con người. Đặc biệt là sản xuất rau an toàn hiện nay có nhiều vấn đề được dư luận quan tâm.
Nhưng đất nước ta là một nước công nghiệp hóa, đô thị hóa và sự gia tăng dân số làm cho diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, ô nhiễm môi trường càng nặng nề,. Vậy với tình hình như vậy liệu những nơi sản xuất rau an toàn có đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân không ? Công ty Cổ phần Chế biến Nông sản Thái Nguyên là một đơn vị chuyên sản xuất và kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp an toàn trên địa bàn tỉnh. Là một trong những công ty có quy mô sản xuất và tiêu thụ rau sạch lớn, sản phẩm đã có thương hiệu, liên kết với 35 trường học trên địa bàn tỉnh Thái h 2 Nguyên, sản phẩm của công ty được nhiều người biết đến. Tuy là nơi sản xuất rau sạch lớn của Thái Nguyên, nhưng lượng rau có đủ an toàn không? Sản xuất và tiêu thụ rau sạch hiện nay như thế nào? Gặp những khó khăn gì? Và cần làm gì để đẩy mạnh sản xuất và phân phối rau sạch tại công ty trong thời gian tới để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng.
Xuất phát từ những lý do trên nên em chọn “Tìm hiểu tình hình hoạt động sản xuất và phân phối rau sạch tại Công ty Cổ phần Chế biến Nông sản Thái Nguyên” làm đề tài tốt nghiệp. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở tìm hiểu hoạt động sản xuất và phân phối rau sạch tại Công ty Cổ phần Chế biến Nông sản Thái Nguyên thời gian qua đề xuất một số giải pháp phát triển sản xuất và phân phối rau sạch của công ty trong những năm tới. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá thực trạng sản xuất và phân phối rau sạch ở Công ty Chế biến Nông sản Thái Nguyên - Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ rau sạch tại Công ty Chế biến Nông sản Thái Nguyên.
- Phân tích SWOT của Công ty Cổ phần Chế biến Nông sản Thái Nguyên. - Đề xuất các giải pháp phát triển sản xuất và phân phối rau sạch góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp của công ty trong thời gian tới. Nội dung và phương pháp thực hiện 1. Nội dung thực tập - Tình hình sản xuất và phân phối rau sạch trong thời gian qua của công ty.
- Những thuận lợi, khó khăn và những yếu tố nào ảnh hưởng đến sản xuất và phân phối rau sạch ở công ty. h 3 - Cần đề xuất những giải pháp gì để phát huy những thuận lợi và khắc phục khó khăn nhằm phát triển sản xuất và phân phối rau sạch ở công ty trong thời gian tới. - Những giải pháp để phát triển sản xuất và phân phối rau sạch của công ty. Phương pháp thực hiện 1.
Phương pháp điều tra thu thập số liệu Các số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp có liên quan đến nội dung nghiên cứu sẽ được điều tra thu thập trong quá trình thực hiện đề tài. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp - Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: là phương pháp thu thập các thông tin, số liệu, thông tin liên quan trực tiếp và gián tiếp vấn đề nghiên cứu của đề tài đã được công bố chính thức tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, như lấy số liệu từ các ban ngành của huyện, xã các báo cáo tổng kết liên quan đến cơ sở sản xuất nấm và qua internet. Sử dụng phương pháp kế thừa và cập nhật các báo cáo tổng kết, báo cáo kết quả thực hiện kinh tế, xã hội, sách báo, internet, số liệu thống kê của các phòng ban trong công ty. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp • Phương pháp PRA: PRA là một loạt các biện pháp tiếp cận và phương pháp khuyến khích lôi cuốn người dân tham gia cùng chia sẻ thảo luận, phân tích kiến thức của họ về đời sống, điều kiện nông thôn để họ lập kế hoạch thảo luận cũng như thực hiện và giám sát, đánh giá.
Đề tài này đã sử dụng các công cụ PRA sau: + Phỏng vấn trực tiếp: tiến hành phỏng vẫn trực tiếp Giám đốc Công ty Cổ phần Chế biến Nông sản Thái Nguyên. h 4 + Quan sát trực tiếp: Tiến hành quan sát trực tiếp tham gia các hoạt động sản xuất và phân phối của công ty, nhằm hiểu biết tổng quát, đồng thời đánh giá độ tin cậy của các số liệu giám đốc công ty đã cung cấp. Phương pháp phân tích và xử lý thông tin - Phương pháp thống kê: Được coi là chủ đạo để nghiên cứu các mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào, đầu ra, qua đó đánh giá so sánh và rút ra những kết luận, nhằm đưa ra các giải pháp có tính khoa học cũng như thực tế trong việc phát triển kinh tế của công ty. - Phương pháp chuyên khảo: Dùng để thu thập và lựa chọn các thông tin, tài liệu, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài.
Thông qua việc nghiên cứu để lựa chọn, kế thừa những gì tiến bộ vận dụng vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả sản xuất của công ty. - Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh: Phương pháp này đòi hỏi người quản lý công ty phải ghi chép tỷ mỷ, thường xuyên, liên tục suốt trong quá trình sản xuất và phân phối, nhằm biết được các yếu tố đầu vào, đầu ra từ đó biết được thu nhập của công ty trong một kỳ sản xuất và phân phối, thông qua kết quả đó rút ra các kết luận nhằm định hướng cho kỳ tới. Thời gian và địa điểm thực tập - Địa điểm: Được thực hiện tại Công ty Cổ phần Chế biến Nông sản Thái Nguyên, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên - Thời gian thực hiện: Tháng 1/2018 đến tháng 4/2018 h 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Về cơ sở lý luận 2.
Khái niệm rau sạch và nguyên nhân khiến rau không sạch Rau sạch được định nghĩa như sau: “Những sản phẩm rau tươi bao gồm tất cả rau ăn củ, thân, lá, hoa, quả có chất lượng đúng với đặc tính giống của chúng, hàm lượng các hóa chất độc và mức độ ô nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, an toàn cho người tiêu dùng và môi trường thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm gọi tắt là rau sạch” (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 1998) Tiêu chuẩn rau sạch về hình thái theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 1998, sản phẩm rau tươi phải được thu hoạch đúng lúc, đúng độ già kỹ thuật hay thương phẩm của từng loại rau, không dập nát, hư thối, không lẫn tạp chất, sâu bệnh và có bao gói thích hợp. Bên cạnh đó, rau sạch cần phải đảm bảo các tiêu chuẩn về mức giới hạn tối đa cho phép của các nội chất như: - Hàm lượng nitrat (NO3) (mg/kg) - Hàm lượng của một số kim loại nặng và độc tố - Hàm lượng của một số vi sinh vật - Hàm lượng của một số thuốc bảo vệ thực vật Tại những vùng sản xuất nông nghiệp có môi trường sinh thái không tốt, cây rau có thể bị chuột, sâu bệnh hại làm thất thu trung bình 20 – 40% năng suất, nhiều vùng thậm chí còn mất trắng. Chính vì thế hóa chất bảo vệ thực vật được dùng thường xuyên trên đồng ruộng. Việc lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật đã làm tăng ô nhiễm môi trường sinh thái, làm giảm mật độ và h 6 số lượng thiên dịch.
Thêm vào đó, mực nước ngầm cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng do tồn dư thuốc bảo vệ thực vật quá cao. Một số nguyên nhân chính khiến người tiêu dùng và các cơ quan quản lý Nhà nước nghi ngờ độ an toàn của rau củ: Một là, người nông dân chỉ quen sản xuất nhỏ lẻ, hầu như không áp dụng các kỹ thuật mới, các quy trình trồng rau quả sạch và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tràn lan không hề quan tâm đến loại thuốc, liều lượng, thời gian cách ly. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu khiến sản phẩm rau trở nên không sạch và gây ra nhiều vụ ngộ độc cấp tính trong thời gian gần đây đặc biệt là ở các đô thị lớn. Thứ hai, vấn đề quy hoạch vùng sản xuất rau sạch chưa đồng bộ và có quy mô tương đối về diện tích, thậm chí rau sạch còn được canh tác xen kẽ với rau không sạch hoặc cây trồng khác.
Vì thế, thiên dịch của sâu hại rau vẫn bị mất đi do việc sử dụng thuốc của thửa ruộng bên cạnh và lúc này ruộng rau an toàn lại trở thành nơi “lánh nạn” của sâu hại. Để đảm bảo năng suất, người trồng rau an toàn bắt buộc phải sử dụng thuốc nhiều hơn dự định, kết quả là làm sản phẩm rau trở nên không sạch. Thứ ba, tình trạng bất lực trong kiểm soát nhập khẩu và kinh doanh, sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật bị cấm sử dụng trong nông nghiệp do chế tài xử phạt còn chưa nghiêm khắc, tiền phạt là quá nhỏ so với lợi nhuận do việc vi phạm thu được. Thứ tư, mức độ tiêu thụ rau sạch trong cộng đồng còn quá thấp, chưa đủ hấp dẫn để các doanh nghiệp đầu tư vào kinh doanh.
Mặt khác trình độ hạn chế của người dân và cán bộ kỹ thuật ngành nông nghiệp cũng là một cản trở đáng kể đối với sản xuất rau sạch.