Chương 1: Cơ sẽ lý luận quản lý nhà nước về gia đình và khái quát về Thủ đô Hà Nội Chương 2: Thực trạng quân lý nhà nước vỀ gia đình trên địa bàn Tivi đô Hà Nội trong giai doạn hiện nay. Chương3: Những giải pháp nhằm nông cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước vê gia đình trần địa bàn Thủ đồ Hà ? Chương L CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẦN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIA DỈNTT VA KHAI QUAT VE THU ĐÔ HÀ NỘT 1.1 Cơ sở lý luận trong công tác quản lý nhả nước về gìa đình 1.1 Khải quát về gia đình 1. Các khải niệm liên quan dến gia đình Hôn nhân chính là cơ sở để hình thành gia đình. Hồn nhân; “ôn nhân là quan hệ giữa vợ và chẳng sau khi đã kết hôn”.
Hôn nhân một vợ một chồng được pháp luật Việt Nam quy định và bảo vệ. Khai niêm về gia định có nhiêu những quần điểm khác nhau.Mao trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” khi luận chứng vẻ những tiên dễ, điều kiện cho sự tốn tại cúa con người, ông đã nói: “Hằng ngày (ái tạo ra đời sông của bản thân mình, con người lạo ra những người khác sinh sôi, này nó, đó là quan hệ giữa vự và chẳng, cha mẹ và con cái đó là gia đình”. Với quan à này, khái niệm gia đình được hiểu với ba nội dụng: Thử nhất. Gia đình ra đời cùng với sự phát triển của xã hội loài người, cơn người cùng với quá trình tạo ra xã hội cũng đã tái tạo ra gia đình.
Thử hai: Chức năng chính của con người là tai tạo ra con người, tải sẵn xuất sức lao động, Thử ba: Gia đình được cầu thành bởi hai mỗi quan hệ chủ yếu là quan. hệ hồn nhân (vợ chồng) và quan hệ huyết thông (cha me vả con cải). Tế chức UNESCO đã đưa ra định nghĩa “ Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng chung sống và có ngân sách chung. Các thành viên trang gia đình gắn bó, với nhau về trách nhiệm và quyén loi v8 moi mat, duoc pháp luột thừa nhận” Khai niém về gia đình mang tính pháp ly ở Việt Nam được ghỉ nhận trong, Lut [én nban va gia định năm 2000 xác định “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau theo hôn nhân, quan hệ huyết thẳng hoặc do quan hệ muỗi dưỡng, làm phái sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau”.
Các nhà xã hội học coi gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở cáo quan hệ bên nhân, quan hệ huyết thông. Từ quan hệ hỏn nhân. đó, thường chưng sông, hợp tác kinh tế để thoã mãn các nhu cầu tầm lý, tỉnh cảm, sinh để, nuôi đạy con cái, chịu sự ràng buộc có tính pháp lý, được xã hội, Nhà nước thừa nhận và bão vệ và có đặc điểm văn hoá Tiờng. Qua một số quan niệm vẻ gia đình của các tác giá khác nhau chúng, ta có thể nhận diện gia đình trên các khia cạnh khác nhau như: Một là: Gia đình là một thiết chế xã hội được hình thành trước hét trén co sở của quan hệ liên nhận.
Quan hệ hôn nhan là sự liên kếI các oã nhằn (nam rit) theo quy định của pháp luật nhằm để cứng sống với nhau và xây dựng gia đình hạnh: phúc. (Quan hệ hôn nhân được biểu hiện là loại quan hệ xã hội gắn liễn với thân nhân đó là quan hệ vợ chồng để sinh sản và nuôi đạy con cải. Tai là: Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa cha mẹ và con cải, là sự tiếp tục và hệ quả tật yếu eda quan hệ hôn nhân, nỏ chỉ phát triển tốt đẹp dựa trên quan hệ tình yêu và lồn nhân chính dàng, hợp pháp. Ba là: Quan hệ nuôi dưỡng là loại quan hệ hình thành giữa chú thể và đối tượng được muôi đường, họ gắn bó với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ, được pháp luật thừa thận và bão về.
Từ khí gia đình ra đời cho đến may, dù ở thời đại nào gia đình cũng luôn gắn liển với các cá nhân vả xã hội, có vai trò đặc biệt dối với sự phát triển của cá nhân và xã hội. Hộ gia đình là bao gâm là bao gầm những người sống chung, có quan hệ hôn nhân, ruột thịt hoặc nhận nuôi dưỡng và có quỹ thu chỉ chung, không phân biệt là âã bạp chưa được tách khẩu thường trú. Trên thực tẻ những người có chưng huyết thông cũng thường là chủ thể đích thực của hộ, vì vậy khải niệm hộ đuợc hiểu đồng nghĩa với gia đình bao gồm những người có quan hệ hôn nhân và huyết tộc cũng ăn chưng, ở chung. Hai khái niệm gia dinh và hộ gia đình đổi khi được sử dụng thay thé cho nhau, thường, đan xen với nhau nên không phải lúc nào cũng phân biệt rạch rồi.
Gia đình được thiết lập trên cơ sở hai yếu tổ cơ bản là hỗn nhân, từ đó hình thành các quan hệ huyết thông, thân tộc giữa các thành viên. Còn hộ gia đình tên tại trong hệ thông hánh chính pháp lý, dùng đề chỉ những người cùng sinh sống dưới muội suấn thả và có kinh tế chúng, Quy mô gia dình chỉ chế dộ lớn nhỏ của gia dình - đó là một đơn vị do lường đề thấy được số lượng thành viên cùng chung sống trong một gia đình bao gém ông bà, cha mẹ, con cháu và các thành viên khác. Quy iid gia dink còn phụ (huộc vào rrức xinh của cáo cặp vợ chẳng và auô hình chúng sông của giữa các thế hệ trong gia đình Van hod gia đình theo nghĩa rộng, là nó bao gồm quan hé dao ly, chuẩn mực, khuôn phép trong sinh hoạt, ứng xứ, cúc quan hệ về tình cam, việc chăm sắc con cái, các tập quán về thè phụng tÔ tiên. Viin hoá gia đình là một đạng văn hoá uông đồng die thi, mot mdi trường van hoa die thi, trong dé cde hệ giá trị, chuẩn mực trở thành dịnh hướng má mỗi thánh viên trong gia dùnh chấp nhận, tuân theo và có nghĩa vụ thực hiện Văn hoá gia đình là một bộ phận, là cái “gốc” của văn hoá làng, văn hoá nước.
Vì vậy việc đẩy mạnh phong lào xây dựng gia đình văn hoa không thể tách rời việc xem xét, đánh giá từ góc độ vấn hóa gia đùnh. Cuộc vân động xây dựng gia dinh văn hoá và các tiêu chỉ về gia dình văn hóa cần xem xét trên góc độ văn hoà gia đình. Dẳng thời trong quả trình xây dựng gia đình văn hoá cản giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Ió lá cơ sở xây dựng tư tưởng, đạo đức, lôi sông tốt đẹp, xây đựng đời sống van hoa trong mỗi gia đỉnh Gia đình văn hoá đó là gia đãnh no Âm, boà thuận và tiến bộ; nâng cao ý thức và nghĩa vụ gia đình với mọi nguời, hay ngắn gọn hơn: Gia đình văn hoá là gia đình Âm nơ, bình dẳng, tiễn bộ và hạnh phúc.
+ Gia định no ấm là gia định: đủ ăn, đám báo dinh dưỡng hợp lý. Dũ mặc, phủ hợp với điểu kiện sinh hoạt và làm việc. Có nhà ở ốn định, vững chắc. Có các tiên nghỉ thiết yêu phục vụ sinh hoạt gia đỉnh.
+ Gia đình bình đẳng là gia đình trong đó, moi thành viên trong gia đình đều được chia sé, bàn bạc, cùng nhau quyết định mọi công việc. Các thành viên đều được hướng quyền lợi như nhau: học tập, nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe, hưởng thụ văn hỏa, tham gia cáo hoạt động, ở công đẳng và xã hội Các thành viên gia đình biết kinh trên nhường dưới, quan lâm, giúp đỡ lẫn tử trong cuộc sống, Không phân biệt con gái hay con trai + Gia đỉnh tiến bộ, lá gia đỉnh thực hiện tốt các yếu tổ bình đẳng trong gia đình Các thành viên thực biện tốt các đường lối, chính sách và pháp luật của Nhà nước không ví phạm tệ nạn xã hội, không vi phạm các quy ỏc của cộng đồng. Tích cuc học tập để năng cao tình độ về mới ruặt, thực hiện tốt chăm sóc sức khỏe, kể hoạch hóa gia dinh. + Gia dinh hạnh phúc là gia đình là gia đình mọi thành viên có ý thức chăm sóc sức khée.
Thay hái lỏng, toại nguyện với tế ấm. Khi một gia đình đạt cả bà tiêu chỉ: No ấm, bình đẳng, tiên bộ thì đỏ là điều kiện cần để có một. gia đình bạnh phúc 1.2 Chức năng của của gia đình Gia định Việt Nam đã trái qua nhêu thẻ hệ trong quá trình phát triển với những chuẩn mực giả trị tốt đẹp, góp phần xây dựng bản sắc văn hoá của dân tộc ta. Nhiễu giả trị truyền thống quý báu đã được gia đình gìn giữ, vu đấp và phát huy giá trị trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Qua các thời kỳ phát triển khác nhau , câu trúc và quan hệ gia đình Việt Nam đã có những thay đổi nhất định, nhưng chức năng cơ bản của gia đình vẫn tồn tại và gia dinh vẫn luôn là nhân tổ quan trọng, không thể thiểu dược trong sự phat tnén, phổn vinh của dân tộc. Giá trị chức năng cứa gia đình là thành tổ cơ bán tạo nên hệ giá trị cơ bản của văn hoá gia đình. Các nhà xã hội học đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau về các chức năng chính của gia đình Tuy nhiên, các ý kiến đỏ đểu cho rằng cùng với sự phát triển của lịch sử, các chức năng, của gia đình có I biển đổi, giám sứt hoặc mắt đi và có chức năng khác nổi trội hơn. Từ khi xuất hiện gia đình, trải qua mọi thời đại, gia định bao giờ cũng có hai chức năng cơ bản là chức năng sinh sản và chức năng nuôi dạy con cải Nhưng cùng với sự biển thiên của lịch wử và.
hoàn cảnh khác nhau cửa riổi quốc gia, vùng niên, các chức năng chính của gia đình cỏ sự biển đổi hức răng cơ bắn này có môi liên hệ, tác động vả cùng bổ trợ với nhau giúp gia đình tôn tại và phát triển. Từ thực tiễn phát triển của xã hội và dưới gỏc độ văn hoá gia đình só thể đẻ cập đến các chức năng cơ bản của gia đỉnh như sau: Chứu năng sinh sẵn, duy trì nồi giống: Đày là chức nắng quan trọng của gia đình bởi nỏ tạo nên con người- sán phẩm quỷ giả cúa xã hội. Sinh san để duy trì nòi giống của gia dinh. Không những thẻ, gia dình tải sán xuất ra con người là tái sản xuất ra sức laa động, đây là nhân tổ quan trọng gớp phân xây dựng và phát triển đất nước.