CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Kể từ sau Đổi mới, với mong muốn xoá bỏ dần cơ chế quan liêu bao cấp của nền kinh tế kế hoạch hoá, xây dựng nền kinh tế thị trường năng động và hội nhập với kinh tế quốc tế, Việt Nam đã xây dựng và ban hành các chính sách nhằm phát triển khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Sau 35 năm đổi mới, khu vực doanh nghiệp, chủ thể chính của nền kinh tế, đã trở thành động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế Việt Nam.
Sự năng động của các doanh nghiệp ở Việt Nam đã góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập, tạo đà tăng trưởng cao cho đất nước trong một thời gian dài. Mặc dù vậy, có những giai đoạn tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế chậm lại, sức cạnh tranh bị suy giảm. Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, hiệu quả đầu tư của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trong nước (bao gồm doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân) sẽ quyết định sự tăng trưởng của nền kinh tế. Các nghiên cứu về hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp cũng thường so sánh hiệu quả đầu tư của khối doanh nghiệp nhà nước và khối doanh nghiệp tư nhân thông qua các chỉ tiêu hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội.
Đối với khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), hiệu quả đầu tư, bên cạnh các chỉ số hiệu quả tài chính, được xem xét thông qua các tác động tràn đến khu vực doanh nghiệp 7 nội địa. Tổng quan tài liệu về hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp có một số điểm đáng chú ý như sau: 1. Đánh giá hiệu quả đầu tư thông qua việc so sánh hiệu quả đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân Các nghiên cứu đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ở các nền kinh tế chuyển đổi thường tập trung vào đánh giá hiệu quả đầu tư của khu vực nhà nước so với khu vực tư nhân. Nếu như trước đây, các nghiên cứu thường tập trung đánh giá hiệu quả đầu tư ở các nước chuyển đổi khu vực Đông Âu thì trong những năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả đầu tư ở các nước chuyển đổi Châu Á như Trung Quốc hoặc Việt Nam.
Trong các nghiên cứu quốc tế về hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp thường tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình sở hữu, đặc biệt là sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Shleifer 1998, Ramamurti 1997, La Porta và Lopez-de-Silanes 1999). Nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này tập trung vào các nước đang chuyển đổi từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường (Frydman và cộng sự 1999, Claessens, Djankov và Pohl 1997, Claessens và Djankov 1999). Đặc biệt tập trung vào các nền kinh tế đang chuyển đổi ở Đông Á như Trung Quốc và Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù có những thành công của việc tăng trưởng dựa trên vốn đầu tư, hiệu quả đầu tư ở các nước này vẫn còn rất hạn chế. Trong khi đó, DNNN tiếp tục hoạt động với vai trò quan trọng trong nền kinh tế mặc dù vẫn thể hiện sự yếu kém về quản trị doanh nghiệp và những mâu thuẫn giữa mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu chính sách (Dollar và Wei 2007, IMF 2013, VEPR 2012).
Trong khi các mô hình truyền thống về mối quan hệ giữa quản lý – cổ đông và đầu tư doanh nghiệp (Jensen 1986, Blanchard và cộng sự 1994) nhấn mạnh mục tiêu của cổ đông là tối đa hóa lợi nhuận, có một số nguyên nhân chỉ ra tại sao 8 DNNN có thể đi chệch mục tiêu này dẫn tới hiệu quả phân bổ vốn thấp. Nếu mục tiêu của chính phủ và các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm tối đa hóa phúc lợi xã hội, vì lợi ích công cộng hoặc vì mục đích chính trị thì việc phân bổ vốn đầu tư sẽ trở thành ưu tiên phụ trong các doanh nghiệp mà nhà nước giữ cổ phần chi phối (Shleifer 1998, Megginson và Netter 2001). Ví dụ, sự thay đổi quản trị có thể dẫn tới việc thay đổi mục tiêu và sự không chắc chắn của chính quyền có thể dẫn tới kế hoạch đầu tư dựa trên việc tối đa hóa quy mô doanh nghiệp (nhằm mục tiêu mở rộng quy mô) chứ không phải vì mục tiêu lợi nhuận (Megginson và Netter 2001, Chen và cộng sự 2011). Các quyết định phân bổ vốn đầu tư kém có thể trầm trọng hơn trong nền kinh tế chuyển đổi khi mà sự can thiệp của chính phủ có thể làm nảy sinh các cuộc tranh luận về rủi ro đạo đức.
Chen và cộng sự (2011) lưu ý 2 lý do có thể dẫn tới hiệu quả phân bổ vốn đầu tư kém là: 1) Các DNNN (trong các nghiên cứu tiên nghiệm) có thể bỏ lỡ cơ hội đầu tư để có lợi nhuận nếu có sự xung đội với mục tiêu chính trị và 2) DNNN (được dự báo) có thể không hủy bỏ các các dự án đầu tư không có lợi nhuận nếu nó phục vụ cho các chương trình nghị sự rộng hơn. Trong nhiều trường hợp, các hoạt động đầu tư của DNNN được thực hiện để cung cấp các dịch vụ công mà không vì mục tiêu lợi nhuận. Thêm vào đó, những hạn chế mềm về ngân sách và những ưu đãi khi tiếp cận tín dụng cho các DNNN có thể dẫn tới các quyết định sản xuất và đầu tư không hiệu quả nhưng vẫn được hỗ trợ vốn (Berglof, Erik, và Roland 1998, Hersch và cộng sự 1997, Megginson và Netter 2001, Schaffer 1998). Xem xét hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp tư nhân và DNNN ở Hàn Quốc, (Kim và Kwon 2015) đã chỉ ra rằng các doanh nghiệp tư nhân có hiệu quả đầu tư cao hơn DNNN do sự bất cân xứng thông tin thấp hơn khi các nhà đầu tư lớn của các doanh nghiệp tư nhân có quyền truy cập vào các thông tin nội bộ của doanh 9 nghiệp.
Tuy nhiên, cũng như các nghiên cứu về Trung Quốc (Chen và cộng sự 2011), nghiên cứu của (Kim và Kwon 2015) chỉ tập trung vào các doanh nghiệp niêm yết chính thức trên thị trường chứng khoán mà không đánh giá hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp chưa/không niêm yết. 2014), (WorldBank 2012), (VEPR 2012), doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đang trở thành lực cản cho sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Phân tích hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân và DNNN ở Việt Nam và xem xét mối quan hệ giữa doanh thu và đầu tư từ số liệu Điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2001-2012, (O'Toole và cộng sự 2015) đã chỉ ra rằng, kế hoạch đầu tư của các DNNN ở Việt Nam dường như không có mối quan hệ với tăng trưởng doanh thu. Trong khi các doanh nghiệp tư nhân cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa đầu tư và tăng trưởng sản lượng thì ở khối DNNN, mối quan hệ này không có ý nghĩa thống kê.
Nghiên cứu của (Trần Kim Hào, Nguyễn Thị Nguyệt 2012) và O'Toole và cộng sự 2015) cũng cho thấy, những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng kém hiệu quả của DNNN là do không tối ưu hiệu quả của đồng vốn đầu tư nhà nước, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chưa làm thay đổi chất lượng quản trị và quản lý DNNN. Là một nước đang phát triển điển hình ở Châu Á, năm 1986, Việt Nam đã tiến hành chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chỉ bao gồm các DNNN và các hợp tác xã sang nền kinh tế định hướng thị trường đa ngành, đa sản phẩm. Một trong những lý do buộc chính phủ thực hiện cải cách kinh tế này là sự không hiệu quả của hệ thống kế hoạch hóa tập trung đã dẫn tới sự thất bại của nhiều DNNN (Phạm và Mohnen, 2005). Một giải pháp kinh tế cho vấn đề này là phát triển các doanh nghiệp tư nhân và làm giảm các DNNN kém hiệu quả thông qua cổ phần hóa.
Trong giai đoạn 1992-2004, tổng số DNNN được cổ phần hoá hoàn toàn lên đến 2.242 doanh nghiệp với tổng vốn đầu tư khoảng 17. Ngoài ra, cổ phần hoá chủ yếu góp phần chuyển đổi từ DNNN sang các doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Neupert và cộng sự, 2006), có tốc độ phát triển nhanh chóng đáng kể, khoảng 300% trong giai đoạn 1998-2002 (TCTK, 2009). Khi đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa và tư nhân hóa, (Pham 2013) sử dụng mẫu các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa trong giai đoạn 2000-2012. Kiểm tra sự thay đổi bằng việc so sánh hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp một năm sau tư nhân hóa với nhiều năm sau tư nhân hóa, sử dụng phương pháp luận tập trung vào khía cạnh tài chính và thu thập dữ liệu từ các báo cáo tài chính được kiểm toán, tác giả chỉ ra rằng tư nhân hóa không đảm bảo sự cải thiện hiệu quả của doanh nghiệp.
Cụ thể, sau tư nhân hóa, các doanh nghiệp có tăng doanh lợi tài sản (ROA) và doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) là do tiết kiệm chi phí bán hàng và quản trị và tăng doanh thu ròng do mở rộng kỳ hạn tín dụng. Phân tích cũng chỉ ra doanh nghiệp là DNNN trước đây có nợ và đòn bẩy tài chính thấp hơn, hiệu suất sử dụng tài sản thấp hơn chủ yếu do quản lý tài sản không hiệu quả. Một kết quả khác là rủi ro tiềm ẩn của việc trả nợ ngắn hạn. Bài học rút ra là cần tiếp tục chương trình tư nhân hóa.
Tuy nhiên, bên cạnh những thay đổi, chính phủ nên tập trung vào những quyết định phức tạp hơn và kỹ năng quản trị của những doanh nghiệp có nguồn gốc nhà nước trong quá trình tư nhân hóa. Đã có nhiều nghiên cứu trong nước đánh giá hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước bao gồm doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và các doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước. Các báo cáo này đã nghiên cứu đến nhiều khía cạnh khác nhau như: hiệu quả sử dụng vốn, mức độ đóng góp vào tăng trưởng, đóng góp vào an sinh xã hội… (Ngô Quang Minh, 2001; CIEM, 2002; IMF, 2013; Pham, Cuong Duc, 2013; Nguyễn Đình Cung, 2014; O’Toole và cộng sự, 2015).