Đặt vấn đề Ngành chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở các nước trên thế giới cũng như ở nước ta, vì đó là một nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [19]. Muốn chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế cao, bên cạnh thức ăn và kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc tốt thì cần phải có con giống tốt. Muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản có một vai trò đặc biệt quan trọng bởi vì ngoài việc chọn được giống lợn có khả năng sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp thì việc nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý dịch bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ là rất quan trọng. Nếu nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái sinh sản và lợn con không đúng kỹ thuật thì chất lượng đàn lợn con sẽ kém, do đó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn con ở giai đoạn sau và hiệu quả chăn nuôi sẽ thấp.
Trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ sau khi đẻ còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại, đặc biệt là những bệnh dịch thường xuyên xảy ra ở lợn nái nuôi con sau khi đẻ và lợn con theo mẹ. Khi bệnh dịch xảy ra đối với lợn mẹ và lợn con trong giai đoạn này đã làm cho chất lượng lợn con cai sữa kém, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn giai đoạn nuôi thịt và lợn hậu bị. Vì vậy, thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ để tạo ra đàn lợn con có chất lượng tốt, khỏe mạnh là hết sức cần thiết. Xuất phát từ tình hình đó, để góp phần nâng cao hiệu quả nuôi lợn trong điều kiện chăn nuôi hiện nay, em đã tiến hành thực hiện chuyên đề: "Thực m 2 hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại Ngô Thị Hồng Gấm, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình".
Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích của chuyên đề - Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ. - Thực hiện quy trình phòng bệnh cho lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ. - Đánh giá được tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại trại lợn.
- Đề xuất được các biện pháp điều trị bệnh hiệu quả cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 1. Yêu cầu của chuyên đề - Vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ đồng thời học tập bổ sung những kiến thức mới từ thực tiễn sản xuất. - Ứng dụng các biện pháp phòng và điều trị bệnh có hiệu quả cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ vào thực tiễn chăn nuôi lợn tại trang trại. m 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Điều kiện cơ sở thực tập 2. Điều kiện tự nhiên của cơ sở thực tập 2. Vị trí địa lý Trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm nằm trên địa phận thôn Dẻ Cau, xã Hợp Thanh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Huyện Lương Sơn có vị trí địa lý như sau: Phía tây giáp huyện Kỳ Sơn.
Phía nam giáp các huyện Kim Bôi và Lạc Thủy. Phía đông giáp các huyện Mỹ Đức, Chương Mỹ; Phía bắc giáp huyện Quốc Oai (thành phố Hà Nội). Điều kiện địa hình, đất đai Huyện Lương Sơn thuộc vùng trung du – nơi chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, nên địa hình rất đa dạng. Địa hình đồi núi thấp có độ cao sàn sàn nhau khoảng 200 – 400 m được hình thành bởi đá macma, đá vôi và các trầm tích lục nguyên, có mạng lưới sông , suối khá dày đặc.
Điều kiện thời tiết khí hậu Khí hậu Lương Sơn thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều. Nền nhiệt trung bình cả năm 22,9 – 23,3oC. Lượng mưa bình quân từ 1.255,6 mm/ năm, nhưng phân bố không đều trong năm và ngay cả trong mùa cũng rất thất thường. Do có nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau nên huyện có thể phát triển cây trồng, vật nuôi phong phú, đa dạng theo hướng tập đoàn.
Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất của trang trại Ngô Thị Hồng Gấm 2. Cơ cấu tổ chức của trại Trang trại Ngô Thị Hồng Gấm là trại lợn gia công của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam, hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê m 4 công nhân; Công ty cung cấp giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật. Hiện nay, trang trại do bà Ngô Thị Hồng Gấm làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của Công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại. Trại gồm có 36 người, trong đó có 1 quản lý, 3 kỹ sư chính của công ty, 2 tổ trưởng (1 người phụ trách chuồng bầu, 1 người phụ trách chuồng đẻ), 21 công nhân, 1 cấp duỡng, 1 cơ khí, 1 bảo vệ và 6 sinh viên thực tập.
Cơ sở vật chất của trại Trang trại có tổng diện tích 6 ha, được xây dựng cách xa khu dân cư, trong đó có khu chăn nuôi, khu nhà ở, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, cây ăn quả, ao hồ chiếm diện tích 3 ha. Diện tích còn lại là đồi núi. Trại chia làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất. Khu điều hành gồm nơi ăn ở của công nhân và nơi làm việc của quản lý trại.
Khu sản xuất gồm 3 chuồng đẻ (1A, 1B; 2A, 2B; 3A, 3B), 2 chuồng bầu (bầu 1 gồm cả đực giống và bầu 2), 1 chuồng cách ly, kho cám, kho thuốc, nhà điều hành, nhà sát trùng. Trại được chia làm nhiều phân khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ nuôi dưỡng phù hợp với từng loại lợn. Thức ăn cho lợn ở mỗi giai đoạn dinh dưỡng cũng phải khác nhau. Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệ thống cảm biến nhiệt độ, hệ thống quạt gió, hệ thống điều hòa, hệ thống giàn mát tự động và sưởi ấm đủ yêu cầu về nhiệt độ.
Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm được xử lý qua hệ thống thoát nước ngầm. Đối tượng và các kết quả sản xuất của trang trại * Đối tượng sản xuất Trang trại chuyên nuôi lợn nái sinh sản để cung cấp lợn giống nuôi thương phẩm (lợn lai giữa giống lợn Landrace và giống lợn Yorkshire). Lợn giống xuất bán ở giai đoạn từ 21 - 23 ngày tuổi. m 5 * Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây Trang trại Ngô Thị Hồng Gấm là một trong những trang trại có quy mô công nghiệp, hiện đại với số vốn đầu tư lớn, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, trại luôn đạt kết quả sản xuất kinh doanh cao.
Dưới đây là một số chỉ tiêu mà trại đã đạt được trong 3 năm gần đây (2018 - 2020). Kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại Số lượng (con) Chỉ tiêu 2018 11/2019 4/2020 Đực giống 21 29 58 Nái sinh sản 1.154 Lợn hậu bị 160 160 225 Tỷ lệ đậu thai (%) 89,60 91 93,10 Số lứa đẻ/nái/năm (con) 2,37 2,4 2,42 Tỷ lệ lợn con chết và loại sau sinh (%) 6,8 6,8 5,0 Số lợn con cai sữa (con) 33.800 (Nguồn: Cán bộ kỹ thuật trại) Qua bảng trên ta có thể thấy, kết quả sản xuất kinh doanh của trại tăng lên theo từng năm. Số lợn đực giống từ năm 2018 là 21 con, tới năm 2020 tăng lên 58 con. Số lợn nái hậu bị từ năm 2018 là 160 nái, tới năm 2020 tăng lên 225 nái.
Số lợn nái sinh sản năm 2018 là 1. Tỷ lệ phối đậu thai đạt 89,60 ở năm 2018 đã tăng lên 93,10% ở năm 2020. Số lợn con cai sữa giảm xuống, năm 2018 là 33.800 con do số lợn nái giảm đi 121 con so với năm 2018. Nhưng hiệu quả chăn nuôi lợn nái đã tăng lên từ 2,37 lứa đẻ/nái/năm ở năm 2018 đã tăng lên 2,42 lứa đẻ/nái/năm ở năm 2020.
Để có được kết quả này trang trại đã áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật đồng bộ, đặc biệt là kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái sau cai sữa và kỹ thuật phối giống. m 6 Đạt được những kết quả như trên, ngoài việc áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên có tay nghề cao…, trang trại đã tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về vệ sinh thú y, với phương châm “phòng dịch hơn dập dịch”. Trang trại chăn nuôi của bà Ngô Thị Hồng Gấm là một điển hình về mô hình chăn nuôi gia công theo hướng công nghiệp hóa hiện nay. Mô hình chăn nuôi của trại Ngô Thị Hồng Gấm, không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao, mà còn là mô hình phát triển bền vững, hiện đại.
Đây cũng là nơi rất tốt cho sinh viên đến thực tập, trải nghiệm nâng cao tay nghề. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn * Thuận lợi + Được sự quan tâm, tạo điều kiện và có các chính sách hỗ trợ đúng đắn của UBND xã Hợp Thanh, Trạm thú y huyện Lương Sơn. + Được Công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam cung cấp về con giống, thức ăn và thuốc thú y có chất lượng tốt. + Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông.
+ Chuồng trại được trang bị bằng các thiết bị hiện đại, điện lưới 3 pha và hệ thống nước sạch luôn cung cấp đầy đủ cho sinh hoạt và chăn nuôi. + Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân. + Đội ngũ cán bộ kỹ thuật có chuyên môn vững vàng; đội ngũ công nhân rất nhiệt tình, năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Do đó đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại.
* Khó khăn + Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn.