Đặt vấn đề Trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành chăn nuôi luôn chiếm một vị thế quan trọng trong sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước. Ngành chăn nuôi ở nước ta hiện nay đang rất phát triển, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm. Theo số liệu của Tổng cục thống kê (2017): năm 2017 nước ta có khoảng 385,5 triệu gia cầm; tổng đàn gà 295,2 triệu con. Ngành chăn nuôi gia cầm phát triển đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao mức thu nhập cho người dân, tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế cao phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Mặt khác, ngành chăn nuôi còn cung cấp sản phẩm phụ cho các ngành công nghiệp chế biến, cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt. Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng cũng như chất lượng, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm do nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng cao. Đáp ứng nhu cầu ấy đã có nhiều giống gà có khả năng sản xuất thịt, trứng được đưa vào chăn nuôi theo hướng công nghiệp. Đặc biệt là các giống gà lông màu có ưu điểm tốc độ sinh trưởng tương đối nhanh, năng suất thịt cao, chất lượng thịt tốt, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm là điều kiện phát triển tốt cho các mầm bệnh. Gia cầm nói chung và gà nói riêng là loài vật nuôi mẫn cảm, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm. Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm như: H5N1, Newcastle, CRD… Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số lượng và chất lượng đàn gà. Từ đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế và sự phát triển của chăn nuôi gà, đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp.
h 2 Xuất phát từ tình hình thực tế, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của cô giáo GS. Nguyễn Thị Kim Lan và của nơi thực tập, em thực hiện đề tài: “ Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, và điều trị bệnh cho gà lai F1 (Mía x Lương phượng) nuôi chuồng hở tại trại gà Phan Văn Dũng xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên ”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài - Thực hiện được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà thịt - Chẩn đoán và xác định được tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà thịt nuôi tại trại gà nhà ông Phan Văn Dũng xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên - Đưa ra phác đồ điều trị bệnh và đánh giá hiệu quả, lựa chọn phác đồ chính xác 1.
Yêu cầu của đề tài - Nắm được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà thịt. - Biết cách chẩn đoán bệnh trên đàn gà thịt - Đưa ra được phác đồ điều trị và đánh giá hiệu quả h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên Đồng Hỷ là một huyện lớn Diện tích tự nhiên: 427,73 - Dân số: trên 10 vạn người, gồm có 15 xã: Cây Thị, Hóa Thượng, Hóa Trung, Hòa Bình, Hợp Tiến, Khe Mo, Minh Lập, Nam Hòa, Quang Sơn, Tân Lợi, Tân Long, Văn Hán, Văn Lăng và 2 thị trấn: Trại Cau, Sông Cầu.
Địa hình đất đai: huyện Đồng Hỷ thuộc vùng trung du Bắc Bộ, có đồi núi xen kẽ với đồng bằng và ngả thấp dần về phía nam. - Nhiệt độ không khí trung bình 23,4°C, tháng cao nhất là 28,3°C; tháng thấp nhất là 16,3°C - Độ ẩm trung bình năm là 85,1%; tháng cao nhất là 91%; tháng thấp nhất là 78% - Lượng mưa trung bình hàng năm là 1577 mm; tháng lớn nhất là 305mm tháng nhỏ nhất 24 mm - Lượng mưa trung bình hàng năm là 1577 mm; tháng lớn nhất là 305 mm tháng nhỏ nhất 24 mm Khí hậu tại Thái Nguyên mang đậm tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa, kiểu thời tiết đặc trưng ở miền Bắc Việt Nam: mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông lạnh khô. Tuy nhiên, so với Hà Nội thì khí hậu tại đây luôn nhỏ hơn, do các khối khí nóng ẩm từ biển thổi vào, chính vì thế mùa hè mát hơn và mùa đông thì lạnh hơn. Điều kiện kinh tế xã hội Những năm gần đây, kinh tế của huyện Đồng Hỷ tận dụng tối đa các thế mạnh của một vùng đất giàu tiềm năng kinh tế, đa dạng về nghành nghề và nắm bắt thời cơ, khai thác tối đa những tiềm năng sẵn có.
Trên cơ sở đó, h 4 nhanh chóng xác định các ngành kinh tế mũi nhọn để đầu tư phát triển, tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa bước đầu đã thu được những kết quả tốt đẹp. Chăn nuôi gia súc, gia cầm được chú trọng, đàn lợn, gia cầm tăng theo hướng sản suất hàng hóa, phát triển mạnh về số lượng và quy mô. Bên cạnh chăn nuôi, huyện đã tiến hành quy hoạch các vùng nuôi trồng thủy sản, lập các dự án nuôi tập trung theo phương pháp bán thâm canh và công nghiệp. Có thể nói, bức tranh kinh tế Đồng Hỷ trong giai đoạn gần đây đã có những gam màu sáng, hoạt động kinh tế sôi động hơn đã mang lại hơi thở mới trong cuộc sống của người dân nơi đây.
Đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân Đồng Hỷ được cải thiện rõ rệt nhờ các biện pháp chăm lo đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển văn hóa giáo dục. Người dân chủ yếu là làm tại các nhà máy trên địa bàn huyện và các cơ quan hành chính Nhà nước, số còn lại trực tiếp sản xuất nông nghiệp, phát triển ngành trồng trọt, chăn nuôi tại địa phương và một số hộ kinh doanh nhỏ lẻ. Điều kiện của cơ sở vật chất của trại Vì trang trại được xây dựng và đi vào hoạt động chưa lâu, lại là trang trại tư nhân không có vốn đầu tư của công ty nên cơ sở vật chất chưa thực sự hiện đại. Bước đầu trại đã có những đầu tư về cơ sở vật chất như sau: - Trang trại được xây dựng và hoạt động từ năm 2014.
Trại được thiết kế xa khu dân cư, có hàng rào thép gai bao quanh. - Được lắp đặt, trang bị máng ăn treo đổ tay, đường ống uống tự động, mỗi dãy chuồng có từ 300 - 400 máng ăn và 4 đường nước tự động chạy dọc chuồng. Nền trại bê tông và mái được lợp bằng tấm lợp Fibro xi măng. - Có 3 kho thức ăn xây dựng ở mỗi đầu chuồng, 1 máy phát điện, mỗi chuồng được lắp đặt 4 quạt trần, có 6 bếp sưởi than, 8 cái đèn ga, 30 cái đèn sưởi và một số dụng cụ như bạt, khung úm,… h 5 - Trong mỗi chuồng có 1 nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ trong chuồng nuôi.
- Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng bằng nước giếng khoan và có các bể chứa. - Hệ thống điện trại sử dụng dòng điện 3 pha - Sân trại là nền đất dải gạch vụn và đá dăm lên trên 2. Cơ cấu tổ chức của trại Cơ cấu của trại tổ chức như sau: - Diện tích chuồng trại là 1820m2 (3 chuồng) - Gồm 3 dãy chuồng, chuồng 1 nuôi được khoảng 6.000 - 8000 con, chuồng 2, 3 nuôi được khoảng 5000 – 7000 con - Chuồng 1 có chiều dài 50m, chiều rộng 14m, chuồng 2 dài 40m, rộng 14m, chuồng 3 dài 40m, rộng 14m - Hệ thống bảo vệ xung quanh được xây rào bao quanh bằng lưới thép b40 - Đội ngũ quản lý, kĩ thuật, công nhân gồm: 01 kĩ sư 02 công nhân 01 sinh viên thực tập Và 01 chủ trang trại - Trong quá trình thực tập tại cơ sở, trại tạo điều kiện cho chỗ ở và sinh hoạt theo gia đình chủ trại. Tổng quan và các nghiên cứu trong và ngoài nước 2.
Cơ sở khoa học 2. Một số đặc điểm của gà lai F1 (Mía x Lương phượng) - Gà lúc 1 ngày tuổi có màu lông chủ yếu là vàng nâu, đốm sọc, còn lại là màu đốm đen. Lúc trưởng thành trống có màu nâu đỏ đốm đen ở đuôi, lưng và cánh chiếm tỷ lệ lớn, còn lại là màu đen lẫn nâu đỏ; con mái chủ yếu có màu vàng đốm, đốm đen. chân cao, nhỏ, chắc chắn, mào cờ (mào đơn), thân h 6 hình cân đối, lườn và đùi tương đối phát triển.
Giai đoạn từ 40 - 42 ngày tuổi gà đạt trọng lượng 0,6 - 0,8 kg/con, 72 ngày tuổi đạt 1,3 - 1,5 kg/con, 90 ngày tuổi đạt trọng lượng 2,2 kg/con. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú. Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá. Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 - 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 - 42 cm.
Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác. Do đó để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2001 [9]). * Tiêu hóa ở miệng Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ, chỉ có tác dụng lấy thức ăn, chứ không có tác dụng nghiền nhỏ. Khi thức ăn đi qua khoang miệng thì được thấm ướt bởi nước bọt, các tuyến nước bọt của gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu của nước bọt là dịch nhầy.
Trong nước bọt có chứa một số ít men amilaza nên có ít tác dụng tiêu hóa. Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào thực quản. Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt. * Tiêu hóa ở diều h 7 Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực.
Diều dự trữ và chuẩn bị tiêu hóa thức ăn, thức ăn ở diều được thấm ướt, mềm ra trộn kĩ với một phần tinh bột được thủy phân.